vanban.org

Bản án 54/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con của chị Phạm Thị M đối với anh Ngô Văn L.

1 Về hôn nhân: Chị Phạm Thị M được ly hôn với anh Ngô Văn L. 2 Về con chung: Giao cháu Ngô Mạnh T, sinh ngày 13-11-2014 cho chị Phạm Thị M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; ghi nhận chị Phạm Thị M không yêu cầu anh Ngô Văn L cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con của chị Phạm Thị M đối với anh Ngô Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02-8-2024.
V/v “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bành Văn Hải;

2. Bà Đào Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Mai, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Lâm Phượng Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị M, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Tổ 23 ấp N, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Ngô Văn L, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: Tổ 23 ấp N, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 4 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – chị Phạm Thị M trình bày:

Chị và anh Ngô Văn L tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh vào ngày 22-5-2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 03/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do mâu thuẫn về tình cảm và tiền bạc, thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng bất đồng quan điểm không tìm được tiếng nói chung dẫn đến hết tình cảm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Từ tháng 05/2023 chị và anh L ly thân cho đến nay. Từ khi ly thân thì anh chị không còn qua lại, chăm sóc lẫn nhau. Nay chị nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh L được nữa nên yêu cầu ly hôn với anh L.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Ngô Mạnh T, sinh ngày 13-11-2014, hiện các con chung đang sống cùng với chị. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Ngô Văn L: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh L vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị M đối với anh Ngô Văn L. Về con chung: Giao cháu Ngô Mạnh T cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị M không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Ngô Văn L có địa chỉ cư trú tại Tổ 23 ấp N, xã C, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

Anh Ngô Văn L là bị đơn không thực hiện nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên phải chịu hậu quả của việc không giao nộp chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình được quy định tại các Điều 91, 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên toà, chị Phạm Thị M vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; anh Ngô Văn L đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị M, anh L theo Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị M và anh Ngô Văn L tự nguyện chung sống, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh vào ngày 22-5-2014. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Chị M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh L bởi vì do mâu thuẫn về tình cảm và tiền bạc, thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng bất đồng quan điểm không tìm được tiếng nói chung dẫn đến hết tình cảm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng chị sống ly thân từ tháng 05/2023 cho đến nay, từ khi ly thân anh chị không còn qua lại chăm sóc lẫn nhau. Anh L đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa mà không có lý do, thể hiện việc anh L đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình cũng như không mong muốn đoàn tụ với chị M.

Như vậy, có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân của chị M và anh L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M đối với anh L là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Ngô Mạnh T, sinh ngày 13-11-2014, hiện con chung đang sống cùng với chị M. Căn cứ biên bản ghi ý kiến của cháu T thì trường hợp cha mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Từ khi anh M chị L ly thân thì cháu T cũng đã sinh sống ổn định cùng chị M. Xét thấy, để đảm bảo về điều kiện sống, ổn định về tâm lý và sinh hoạt cho cháu T thì cần giao cháu T cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M; ghi nhận chị M không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét lời đề nghị tại phiên toà của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị M phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con của chị Phạm Thị M đối với anh Ngô Văn L.

1.1 Về hôn nhân: Chị Phạm Thị M được ly hôn với anh Ngô Văn L.

1.2 Về con chung: Giao cháu Ngô Mạnh T, sinh ngày 13-11-2014 cho chị Phạm Thị M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; ghi nhận chị Phạm Thị M không yêu cầu anh Ngô Văn L cấp dưỡng nuôi con.

Anh Ngô Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

1.3 Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007469 ngày 22-3-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ