- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| toµ ¸n nh©n d©n THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ tØnh phó thä | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/HSST Ngày 15 tháng 5 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Hồng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đình Đậu
Ông Đào Văn Kiểm
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị M1 Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15/5/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2023/HSST ngày 10/4/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXXST-HS ngày 28/4/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 03/8/1968. Nơi ĐKHKTT: tổ 3, khu 1, phường Thanh M, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Nơi ở hiện tại: không có nơi ở cố định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/10. Bố đẻ: Nguyễn Văn C, sinh năm 1940 (đã chết); Mẹ đẻ: Bùi Thị T, sinh năm 1940 (đã chết); Vợ: Đặng Thị O, sinh năm 1972 (đã ly hôn). Con: có 01 con sinh năm 1994). Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 17/HSST ngày 16/9/1994 của Toà án nhân dân thị xã Vĩnh Yên xử phạt M1 18 tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án, phạt tiền 500.000 đồng, bồi thường thiệt hại 10.000.000 đồng và phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự, 50.000 đồng án phí dân sự trong vụ án hình sự (Bản án không ghi số tiền đánh bạc). Cơ quan điều tra đã xác M1 tại Chi cục thi hành án thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã uỷ thác cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì theo quyết định uỷ thác số 06 ngày 16/4/1995, Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì xác M1 không nhận được Bản án. (Bản án số 52 ngày 13/3/2012 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì nhận định M1 không có tiền án, tiền sự)
+ Bản án hình sự phúc thẩm số 101 ngày 25/10/1994 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú xử phạt M1 18 tháng tù giam về tội đánh bạc.
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 97/ST-HS ngày 19/8/1995 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú xử phạt M1 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”, 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”, 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản công dân”, 06 năm tù về tội “Cướp tài sản công dân”. Tổng hợp hình phạt chung là 10 năm tù (giá trị tài sản chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng). Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 18 tháng tù của bản án số 101 ngày 25/10/1994 buộc M1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án là 11 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/4/1994, buộc bồi thường cho bị hại 6.000.000 đồng, án phí hình sự 50.000 đồng, án phí dân sự 430.000 đồng. M1 ra trại ngày 22/02/2005, đối với khoản bồi thường và án phí hồ sơ thi hành án đã thất lạc (M1 khai đã chấp hành xong án phí và bồi thường thiệt hại).
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2012/HSST ngày 13/3/2012 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt M1 33 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý” (khối lượng ma tuý là 0,52 gam heroin), thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2011 và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. M1 ra trại ngày 28/5/2014, chấp hành xong án phí ngày 13/3/2012.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2023, do bị cáo không có nơi ở ổn định và nhân thân xấu nên ngày 11/01/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can, Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Đức M. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 55 phút ngày 05/01/2023, tại khu vực gần đèn xanh đèn đỏ đối diện siêu thị Big C Việt Trì thuộc tổ 11, phố Hoà Bình, phường G, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Việt Trì phát hiện và kiểm tra một người đàn ông đang có biểu hiện vi phạm pháp luật. Người này tự khai họ tên là Nguyễn Đức M, sinh năm 1968, trú tại tổ 3, khu 1, phường Thanh M, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Quá trình kiểm tra, M1 tự giác lấy từ trong túi quần đang mặc ra giao nộp: 01 gói giấy có mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng và khai nhận đây là gói ma túy Heroin của M1 mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ gói ma túy. Ngoài ra, còn tạm giữ của M1: Tiền Việt Nam: 1.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu đen xám đã cũ, số IMEI 356835253404049/01, kèm 01 sim số: 0339396593. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra kết quả xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với M1, kết quả dương tính với chất ma túy.
Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số chất bột cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Đức M. Tại bản Kết luận giám định số 106 ngày 09/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
"Chất bột, cục màu trắng chứa trong 01 gói giấy gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng là 0,181 gam.
*Heroin (hay Heroine): số thứ tự 9, Danh mục IA, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ".
Hoàn trả lại 0,146 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong trong 01 bì giấy.
Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ, M1 khai nhận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 05/01/2023, Nguyễn Đức M đi xe khách từ nhà đến khu vực chợ Vĩnh Yên, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma túy. Tại đây, M1 gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ (M1 không biết họ tên, địa chỉ ở đâu) được 01 gói ma túy có đặc điểm là gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng, bên trong chứa chất bột cục màu trắng là ma túy Heroin với giá 300.000 đồng. Sau đó, M1 cầm gói ma túy mua được đúc vào túi quần bên phải đang mặc và bắt xe khách về thành phố Việt Trì. Khi đi đến khu vực đèn xanh đèn đỏ đối diện siêu thị Big C Việt Trì thuộc tổ 11, phố Hoà Bình, phường G, thành phố Việt Trì, M1 xuống xe và tìm nơi để sử dụng thì bị tổ công tác Công an thành phố Việt Trì phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, M1 còn khai nhận: Ngày 03/01/2023, M1 đi xe khách từ nhà xuống khu vực chân cầu vượt thuộc thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc gặp và mua được của một người đàn ông (M1 không biết họ tên, địa chỉ ở đâu) được 01 gói ma túy Heroin với giá 300.000 đồng. Số ma túy này M1 đã sử dụng hết cho bản thân. Ngày 23/3/2023, Công an thành phố Việt Trì ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với M1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt: Cảnh cáo.
Tại bản Cáo trạng số 58/CT-VKSVT ngày 07/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Nguyễn Đức M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Do bị cáo là người sử dụng trái phép chất ma túy nên đã mua ma túy về tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Đối với các vật chứng bị thu giữ, bị cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo M1 từ 20 tháng tù đến 23 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2023. Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 điều 249 để tịch thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Nguyễn Đức M: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu đen xám đã cũ, số IMEI 356835253404049/01 và số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Về vật chứng và án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Việt Trì, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Hồi 13 giờ 55 phút ngày 05/01/2023, tại khu vực gần đèn xanh đèn đỏ đối diện siêu thị Big C Việt Trì thuộc tổ 11, phố Hoà Bình, phường G, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Đức M có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,181 gam ma túy Heroin mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Việt Trì bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Như vậy, Nguyễn Đức M phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, có khung hình phạt từ 01 năm đến 5 năm tù. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì truy tố bị cáo Nguyễn Đức M về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Đức M có nhân thân xấu: Bản thân bị cáo năm 1994 đã bị Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Yên xử phạt 18 tháng tù về tội “Đánh bạc”, năm 1995 bị TAND tỉnh Vĩnh Phú xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân, 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”; 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản công dân”; 06 năm tù về tội “Cướp tài sản công dân”. Tổng hợp hình phạt là 10 năm tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 18 tháng tù của bản án số 101 ngày 25/10/1994 buộc M1 phải chấp hành chung cho cả 02 bản án là 11 năm 06 tháng tù. Năm 2012 của TAND thành phố Việt trì xử phạt M1 33 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo M1 đã chấp hành xong các hình phạt từ năm 2012 nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà bị cáo lại tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này vẫn về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, điều đó chứng tỏ bị cáo M1 rất coi thường pháp luật. Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hành vi trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích phục vụ bản thân do bị nghiện ma túy. Do đó, cần xử phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra thể hiện bị cáo không có chỗ ở ổn định, ngoài tài sản bị thu giữ khi bắt quả tang, bị cáo không có tài sản gì có giá trị. Nên xét thấy cần áp dụng khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để tịch thu sung quỹ nhà nước đối với tài sản của bị cáo là: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu đen xám đã cũ, số IMEI 356835253404049/01 và số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 0,146 gam chất bột cục màu trắng được đựng trong 01 bì niêm phong số 106/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ trả lại sau khi giám định cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 sim số: 0339396593 do không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về những vấn đề khác:
- Đối với người phụ nữ bán ma tuý cho M1 ngày 05/01/2023 và người đàn ông bán ma túy cho M1 ngày 03/01/2023, ngoài lời khai của M1 không có tài liệu nào khác để chứng M1, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác M1. Xét thấy là phù hợp.
- Đối với hành vi mua và sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Đức M ngày 03/01/2023: Sau khi mua được ma tuý, M1 đã sử dụng hết, không thu giữ được ma tuý để xác định khối lượng. Công an thành phố Việt Trì ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Cảnh cáo. Xét thấy là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/01/2023.
Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 điều 249 để tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu đen xám đã cũ, số IMEI 356835253404049/01 và số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy 0,146 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định bên trong 01 bì niêm phong số 106/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự
- Công an tỉnh Phú Thọ.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 sim số: 0339396593
Các vật chứng trên đang lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt trì, tỉnh Phú Thọ.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Buộc bị cáo Nguyễn Đức M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND Tp. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ; - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ; - Công an TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; - THA HS, DS TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo; - UBND phường Thanh M, TP. Việt Trì; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Hồng Vân |