- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thành TR - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thành TR phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/HSST. Ngày: 24-4-2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Huynh.
2. Ông Nguyễn Hiệp An.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2023/HSST ngày 30 tháng 3 năm 2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Thành TR, sinh năm 1978 tại Ninh Thuận. Nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: Tổ 4, ấp 4, xã T , huyện C , tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Thợ Sơn; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông: Lê Tr và bà Trần Thị C ; Có vợ và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2009;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Th , huyện C , tỉnh Đồng Nai.
- Bị hại: Bà Lê Thị Kim H, sinh năm 1961 (chết sau tai nạn giao thông)
Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thiên Ng , sinh năm 1983. (là con ruột của bà H ).
Cùng địa chỉ: Tổ 7, ấp C , xã C , huyện L , tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo, bà Ng có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thành TR có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định. Lúc 17 giờ 00 ngày 23/6/2022, sau khi làm việc xong bị cáo TR đi uống rượu với bạn. Sau khi uống rượu xong, bị cáo điều khiển xe mô tô biển 60B6-091.18 lưu thông trên đường Hương lộ 10 theo hướng xã Bình Sơn đi huyện Cẩm Mỹ để đi về nhà tại xã T , huyện C , tỉnh Đồng Nai. Đến 19 giờ 00 cùng ngày, khi lưu thông đến Km 13+200 đường Hương lộ 10 thuộc ấp Cẩm Đường, xã Cẩm Đường, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, do trong người đã có rượu, trời tối, thiếu quan sát phía trước dẫn đến xe bị cáo va chạm vào phía sau xe đạp do bà Lê Thị Kim H đang dắt bộ ở phía trước cùng chiều với xe bị cáo đang lưu thông. Sau khi va chạm, cả hai người và xe đều bị ngã ra đường, bị cáo bị thương được đưa cấp cứu tại Bệnh viện TP. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, bà H được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực Long Thành. Hậu quả, bà H bị chấn thương sọ não dẫn tới tử vong tại bệnh viện cùng ngày.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 20 giờ 00 phút ngày 23/6/2022 ghi nhận và mô tả như sau:
(1) Xe đạp: Sau tai nạn xe đạp nằm ngã về bên phải, đầu xe hướng về đường 769, đuôi xe hướng về Cẩm Mỹ.
- Tâm trục bánh trước xe đạp chiếu xuống mặt đường cách mép đường chuẩn là 0m55, cách điểm mốc cố định là 6m75.
- Tâm trục bánh sau xe đạp cách mép đường chuẩn là 0m10.
(2) Xe mô tô biển số 60B6-091.18: Sau tai nạn xe ngã về bên trái. Đầu hướng vào bên trong mép đường chuẩn, đuôi xe hướng về lề phải theo hướng lưu thông Cẩm Mỹ đi đường 769.
- Tâm trục bánh trước xe mô tô (2) chiếu xuống mặt đường cách mép đường chuẩn là 0m15, cách tâm trục bánh sau xe đạp chiếu xuống mặt đường là 8m00.
- Tâm trục bánh sau xe mô tô (2) chiếu xuống mặt đường cách mép đường chuẩn là 1m10.
(3) Vết máu nạn nhân: Sau tai nạn tại hiện trường để lại vết máu (3) không rõ hình trên mặt đường.
- Tâm vết máu (3) cách mép đường chuẩn là 0m90, cách tâm trục bánh sau xe mô tô (2) chiếu xuống mặt đường là 1m85.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 302/TT/2022 ngày 12/7/2022 của TR tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Đồng Nai, kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định hồ sơ bệnh án và tài liệu hiện có:
- Đa vị trí tổn thương: Đầu, mặt và tay chân.
- Đa hình thái tổn thương: Xây xát, rách da, bầm tụ máu, gãy xương, nứt vỡ sọ, chảy máu nội sọ.
2. Nguyên nhân chết: Đa chấn thương.
- Chấn thương sọ não gây nứt vỡ sọ phức tạp thái dương chấm phải, chảy máu.
- Kết hợp chấn thương gãy 1/3 giữa xương đùi phải.
3. Kết luận khác:
- Nồng độ cồn trong máu: Không tìm thấy Ethanol và Methanol.
Tại Bản kết luận giám định số: 3730/KL-KTHS ngày 25/7/2022 của Phân viện KHHS tại TP. Hồ Chí Minh (C09B)-Bộ Công an, kết luận:
1. Xe mô tô biển số 60B6-091,18 và xe đạp có va chạm với nhau.
2. Dấu vết va chạm và chiều hướng dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 60B6-091,18 và xe đạp: Dấu vết trượt xước, biến dạng các chi tiết phía trước bên phải xe mô tô biển số 60B6-091.18 (để chân trước, cần đạp phanh) có chiều từ trước về sau phù hợp dấu vết trượt xước, biến dạng các chi tiết phía sau bên trái xe đạp (chân chống, để chân sau) có chiều từ trước về sau.
3. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 60B6-091.18 và xe đạp trên mặt đường nằm trên phần đường bên phải, hướng từ đường 769 đi Cẩm Mỹ.
4. Khi va chạm xe mô tô biển số 60B6-091.18 chuyển động trên đường hương lộ 10, hướng từ đường 769 đi Cẩm Mỹ, xe đạp có hướng chuyển động cùng chiều phía trước.
5. Hai phương tiện không va chạm với phương tiện hoặc vật nào khác.
Tại công văn số: 61 ngày 26/12/2022 của Phân viện Khoa học hình sự (C09B) tại TP.Hồ Chí Minh về việc đính chính kết luận giám định: Do sơ suất trong quá trịnh soạn thảo văn bản, tại Mục 2, Phần V, Kết luận giám định số: 3730/KL-KTHS, ngày 25/7/2022 của Phân viện Khoa học hình sự (CO9B) tại TP.Hồ Chí Minh được đính chính thành: dấu vết trượt xước, biến dạng các chi tiết phía sau bên trái xe đạp (chân chống, để chân sau) có chiều từ sau về trước cho phù hợp với thực tế.
Tại Bản kết luận giám định số: 4629/KL-KTHS ngày 30/11/2022 của Phân viện KHHS tại TP. Hồ Chí Minh (C09B)-Bộ Công an, kết luận:
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, đánh giá đặc điểm dấu vết kỹ thuật số điện tử đối với tập tin hình ảnh (video) gửi giám định, thấy: Hai (02) tập tin video gửi giám định ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông trong điều kiện ban đêm, trời tối, có ngoại vật che khuất tầm quan sát.
Không xác định được tốc độ của xe mô tô liên quan đến vụ tai nạn từ hai (02) tập tin video gửi giám định.
Tại hồ sơ Bệnh án nội trú của Lê Thành TR tại Bệnh viện đa khoa Long Khánh thể hiện kết quả xét nghiệm hoá sinh máu thể hiện: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu: 203.86mg/dL.
Về xử lý vật chứng: Ngày 22/02/2023 Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành ra Quyết định trả tài sản xe mô tô biển số 60B6-091.18 cho ông Nguyễn Văn Đ là cha vợ của bị cáo, do ông Đ cho bị cáo mượn để đi lại và trả lại xe đạp cho bà Nguyễn Thiên Ng là đại diện hợp pháp gia đình bị hại.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Lê Thành TR đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng, gia đình bị hại đã có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Trước Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
- Tại bản Cáo trạng số: 60/CT-VKSLT ngày 23/3/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Lê Thành TR về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tại phiên tòa:
Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo tại bản cáo trạng. Về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: áp dụng tình tiết người phạm tội tự nguyện, sửa chữa bồi thường thiệt hại; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được đại diện người bị hại làm đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Thành TR mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lê Thành TR khi án có hiệu lực pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, đại diện gia đình bị hại có đơn bãi nại và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên có cơ sở xác định: Lê Thành TR có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định. Lúc 17 giờ 00 ngày 23/6/2022, sau khi làm việc xong, TR đi uống rượu với bạn. Sau khi uống rượu xong, TR điều khiển xe mô tô biển số 60B6-091.18 lưu thông trên đường Hương lộ 10 theo hướng xã Bình Sơn đi huyện Cẩm Mỹ để đi về nhà tại xã Th, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Đến 19 giờ 00 cùng ngày, khi lưu thông đến Km 13+200 đường Hương lộ 10 thuộc ấp Cẩm Đường, xã Cẩm Đường, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, TR điều khiển xe trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định và do thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn nên đã va chạm với xe đạp do bà Lê Thị Kim H đang dắt bộ ở phía trước cùng chiều xe TR đang lưu thông. Hậu quả, bà H bị chấn thương sọ não dẫn tới tử vong tại bệnh viện cùng ngày. Do vậy, hành vi trên đây của Lê Thành TR đã vi phạm khoản 8 Điều 8 và khoản 1 Điều 12 của Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chết 01 người là đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng, tính mạng của người khác. Vụ tai nạn do lỗi của bị cáo như đã nêu ở trên và cũng có một phần lỗi của bị hại là dắt xe trên làn đường không phải dành cho người đi bộ. Bản thân bị cáo nhận thức rất rõ về việc điều khiển xe trong tình trạng đã uống rượu, bia là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn điều khiển xe dẫn đến gây ra hậu quả đáng tiếc. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại xong; đại diện gia đình bị hại có đơn bãi nại và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vụ tai nạn cũng có một phần lỗi của bị hại. Do đó, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong và được đại diện bị hại có đơn bãi nại nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: P 323572 mang tên Lê Thành TR khi bản án có hiệu lực pháp luật. Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành đã trả 01 xe mô tô biển số 60B6-091.18 do bị cáo mượn của ông Nguyễn Văn Định sử dụng cho ông Định và trả 01 chiếc xe đạp do bị hại sử dụng cho gia đình bị hại là đúng pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Thành TR phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Thành TR 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: P 323572 mang tên Lê Thành TR do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 10/11/2003 khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Thành TR phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND H.Long Thành; - VKSND T. Đồng Nai; - TAND T.Đồng Nai; - Công an H.Long Thành; - NTGCA H.Long Thành; - CCTHA H.Long Thành; - Bị cáo; - Đại diện bị hại; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thanh Hoa HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN Trần Thị Thanh Hoa |