- Tranh chấp gì? án hình sự — "THẠCH CÔ S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 54/2023/HS-ST Ngày: 23 - 02 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phan Hồng Châu;
Bà Phạm Thị Thu Yến.
- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2023/TLST- HS ngày 06 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/HSST-QĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Thạch Cô S, sinh năm 2001 tại tỉnh Trà Vinh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp V, xã Thạnh Hòa S, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Th, sinh năm: 1963 và bà Thạch Thị S, sinh năm: 1966; bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án, tiền sự: Không có;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 tháng 9 năm 2022 đến nay. Có mặt.
Người làm chứng:
Thạch Thị K, vắng mặt.
Nguyễn Dương V, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như S u:
Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 11/9/2022, Công an phường H, thành phố A, tỉnh Bình Dương tiến hành kiểm tra hành chính tại cơ sở trọ địa chỉ: Số 7B/3, khu phố Đồng An 1, phường H, thành phố A, tỉnh Bình Dương. Qua kiểm tra phát hiện Thạch Cô S tạm trú tại phòng trọ số 10 có biểu hiện nghi vấn sử dụng chất ma túy. S tự lấy trong túi quần 01 (một) túi nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng và 06 (sáu) đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp. S khai nhận số tinh thể màu trắng là ma túy đá của S cất giấu để sử dụng nên Công an phường Bình Hòa lập biên bản niêm phong, tạm giữ tang vật và đưa S về trụ sở làm việc.
Tang vật tạm giữ: 01 (một) túi nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng và 06 (sáu) đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa tinh thể màu trắng.
Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 11/9/2022 của Trung tâm y tế thành phố Thuận An xác định Thạch Cô S có nghiện ma túy loại Methamphetamine (MET).
Ngày 15/6/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có kết luận giám định số 429/KL-KTHS(MT) kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng/trọng lượng: 0,3408 gam (M1); 0,3191 gam (M2); 0,1110 gam (M3), tổng cộng: 0,7709 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKS-TA ngày 05/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Thạch Cô S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Thạch Cô S từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong, ghi vụ số 429/MT-PC09 chứa ma túy là mẫu vật hoàn lại S u giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương là vật chứng của vụ án và là vật cấm nên cần phải tịch thu, tiêu hủy.
Quá trình điều tra, truy tố người làm chứng Thạch Thị K, Nguyễn Dương V, có lời khai phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như S u:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Thạch Cô S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 11/9/2022, tại phòng trọ số 10 thuộc cơ sở trọ địa chỉ: Số 7B/3, khu phố Đồng An 1, phường Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, bị cáo Thạch Cô S có hành vi tàng trữ 0,7709 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ. Trong vụ án này, bị cáo Thạch Cô S là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Thạch Cô S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật Hình sự nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cất giấu ma túy để sử dụng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy cần xét xử bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Thạch Cô S thuộc thẩm quyền điều tra, xác minh của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã chuyển thông tin tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xử lý theo thẩm quyền.
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) bì thư niêm phong, ghi vụ số 429/MT-PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Xét thấy đây là vật chứng trong vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Thạch Cô S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Thạch Cô S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 9 năm 2022.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong, ghi vụ số 429/MT- PC09 (mẫu vật hoàn lại S u giám định) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06 tháng 01 năm 2023 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
3. Về án phí: Bị cáo Thạch Cô S phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Bị cáo; - Lưu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huệ |