vanban.org

Bản án 54/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 31/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lương Trung D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Đi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HS - ST
Ngày 31 tháng 3 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-----------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đức Hiền, ông Dương Văn Toản.

Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Việt Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Luyện - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự Thụ lý số 37/2023/TLST-HS ngày 07/3/2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HS ngày 20/3/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Trung D, sinh năm 1989. Giới tính: Nam

Tên gọi khác: Không.

Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Số nhà 97, đường Nguyễn Duy N, tổ dân phố 2, phường T, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Cán bộ ngân hàng. Trình độ học vấn: 12/12; Đảng, đoàn thể: Không.

Con ông: Lương Nguyên H, sinh năm 1961.

Con bà: Đào Thị M, sinh năm 1960.

Vợ: Lương Thị Huyền T, sinh năm 1991.

Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019.

Anh chị em ruột: Bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo ra đầu thú, không bị tạm giữ, tạm giam, hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại: Bà Trần Thị H, sinh năm 1982 (đã chết); Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện hợp pháp của chị H:

- Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 2001. (có mặt)

- Cháu Nguyễn Tuấn M, sinh ngày 28/11/2012. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

- Bà Vũ Thị T, sinh năm 1944. Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bà T, cháu : Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 2001; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

- Ông Thân Đức C, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Anh Thân Văn Q, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lương Cao G, sinh năm 1957. Địa chỉ: Số nhà 293, đường Lê L, phường Hoàng Hoa T, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)

- Bà Vũ Thị H, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lương Trung D, sinh năm 1989, trú tại số nhà 97, đường Nguyễn Duy N, tổ dân phố số 2, phường T, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang cấp ngày 23/02/2013. Chiều ngày 16/8/2022, D mượn xe ô tô Hyundai Santafe, biển kiểm soát 98A-143.63 của bố vợ là ông Lương Cao G, sinh năm 1957, trú tại số nhà 293, đường L, phường Hoàng Văn T, thành phố Bắc Giang để đến nhà anh Trần Minh H, sinh năm 1989, trú tại P, thị trấn C, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang chơi. Đến khoảng hơn 20 giờ 30 phút cùng ngày 16/8/2022, D điều khiển xe ô tô 98A-143.63 đi từ nhà anh H theo tuyến đường Quốc lộ 17, hướng thị trấn Cao Thượng sang huyện Tân Yên để đi thành phố Bắc Giang về nhà. D điều khiển xe ô tô đi với tốc độ khoảng 50- 60 km/h đến địa phận thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên thì có chuông điện thoại. D cúi người xuống cầm điện thoại sau đó quay lên nhìn đường thì phát hiện xe ô tô 98A-143.63 do D điều khiển va chạm với xe mô tô đi phía trước. Đó là xe mô tô Honda Dream, biển kiểm soát 98K1-087.83 do anh Thân Đức C, sinh năm 1968, trú tại thôn C, xã M, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang điều khiển chở phía sau là chị Trần Thị H, sinh năm 1982, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đang đi phía trước cùng chiều. Do D điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi mô tô đi phía trước nên đã để phần đầu xe ô tô 98A-143.63 đâm vào phía sau xe mô tô 98K1-087.83, khiến anh Cam, chị H ngã xuống lề đường. Sau khi va chạm, D hoảng sợ điều khiển xe ô tô 98A-143.63 tiếp tục đẩy xe mô 98K1-087.83 bỏ trốn khỏi hiện trường. Sau đó, D điều khiển xe ô tô 98A-143.63 đi về hướng thành phố Bắc Giang khoảng gần 01 km rồi rẽ vào phía trước cổng Trường cao đẳng Ngô Gia Tự thì dừng lại và không quay lại hiện trường. Sau và chạm, chị Trần Thị H và anh Thân Đức Cam bị thương, được người dân đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang để cấp cứu, tuy nhiên chị H đã tử vong tại Bệnh viện. Ngày 17/8/2022, Lương Trung D đến Công an huyện Việt Yên đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội.

Sau khi nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên đã thành lập đoàn khám nghiệm, tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn và khám nghiệm tử thi, trưng cầu giám định nguyên nhân chết của chị H.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là Km 72 +150 Quốc lộ 17 thuộc thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang được trải nhựa thẳng, phẳng rộng 10,70m được chia thành hai chiều đường xe chạy bởi một vạch sơn đứt quãng màu vàng ở giữa, rộng 0,15m theo chiều từ Tân Yên đi thành phố Bắc Giang, bên phải có lối rẽ vào thôn Tĩnh Lộc rộng 14,00m, chiều bên phải đường rộng 5,20m, bên trái đường rộng 5,35m. Hai đầu đường có cắm biển báo giao nhau với đường không ưu tiên. Hai bên đường một bên là nhà dân, một bên là cánh đồng. Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết: Ký hiệu số (1) là vết trượt lốp, kích thước (5,70x0,09)m; ký hiệu số (2) là vết trượt xước, kích thước (3,16x0,01)m; ký hiệu số (3) là bãi máu, kích thước (0,30x0,30)m; ký hiệu số (4) là bãi máu, kích thước (0,20x0,10)m; ký hiệu số (5) là bãi máu, kích thước (0,30x0,15)m; ký hiệu số (6) là mảnh nhựa vỡ màu đỏ, kích thước (0,30x0,15)m. Xác định điểm mốc và mép đường xảy ra tai nạn làm chuẩn.

Phải, trái hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định theo chiều đi từ Tân Yên đi thành phố Bắc Giang. Lấy mép đường bên phải nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn, góc lối rẽ vào thôn Tĩnh Lộc là mốc của hiện trường. Trên hiện trường để lại:

Vết trượt lốp trên mặt đường bên phải (1), kích thước (5,70x0,09)m, đầu tâm vết trượt lốp cách mép đường bên phải 2,02m, cuối vết trượt lốp tâm cách mép đường bên phải 2,03m. Khoảng cách từ cuối vết trượt xước (1) đến đầu vết trượt xước (2) là 6,24m.

Vết trượt xước trên mặt đường nhựa bên phải (2), kích thước (3,16x0,01)m. Đầu vết trượt xước cách mép đường bên phải 2,10m, cuối vết trượt xước cách mép đường bên phải 2,25m. Khoảng cách từ cuối vết trượt xước (2) đến tâm bãi máu (3) là 19,40m.

Bãi máu (3) nằm một nửa trên mặt đường nhựa, một nửa nằm ngoài lề đường, kích thước (0,30x0,30)m, tâm bãi máu là mép đường bên phải. Khoảng cách từ tâm bãi máu (3) đến tâm bãi máu (4) là 8,30m.

Bãi máu (4) nằm trên mặt đường nhựa bên phải, kích thước (0,20x0,10)m. Tâm bãi máu cách mép đường nhựa bên phải 0,12m. Khoảng cách từ tâm bãi máu (4) đến tâm bãi máu (5) là 2,87m.

Bãi máu (5) nằm trên mặt đường nhựa bên phải, kích thước (0,30x0,15)m. Tâm bãi máu cách mép đường bên phải 2,17m. Khoảng cách từ tâm bãi máu (5) đến tâm mảnh nhựa vỡ (6) là 5,50m.

Mảnh nhựa vỡ (6) nằm rải rác trên mặt đường nhựa bên phải kích thước (0,30x0,15)m. Tâm mảnh nhựa cách mép đường bên phải 2,50m. Khoảng cách 5,40m từ đầu vết trượt xước (1) đến lối rẽ và thôn Tĩnh Lộc là mốc của hiện trường.

Mở rộng hiện trường phát hiện xe ô tô 98A-143.63 và xe mô tô 98K1- 087.83 vẫn dính vào nhau cách hiện trường 954m (từ đầu vết trượt lốp (1) đến trục bánh sau bên trái xe ô tô 98A-143.63), đỗ ở đường vào Trường cao đẳng Ngô Gia Tự thuộc thôn 284 xã Quế Nham, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Ký hiệu số (7) là xe ô tô 98A-143.63 đỗ đầu hướng Trường cao đẳng Ngô Gia Tự, đuôi hướng Quốc lộ 17. Trục bánh trước bên phải cách mép đường bên phải 0,20m, trục bánh sau bên phải cách mép đường bên phải 0,20m. Trục bánh trước xe mô tô 98K1- 087.83 đến trục bánh trước bên trái của xe ô tô 98A-143.63 là 1,85m.

Ký hiệu số (8) là xe mô tô 98K1- 087.83 đứng đầu hướng Trường cao đẳng Ngô Gia Tự đuôi dính vào xe ô tô 98A-143.63. Trục bánh trước cách mép đường bên phải 1,24m, trục bánh sau bên phải cách mép đường bên phải 1,23m. Khoảng cách từ trục bánh sau bên trái của xe ô tô 98A-143.63 đến Km71 Quốc lộ 17 là 30,15m. Kết thúc khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra thu giữ xe ô tô, xe mô tô, dấu vết máu (3), (4), (5) và mảnh nhựa vỡ (6) nêu trên để phục vụ công tác điều tra vụ tai nạn.

Kết quả khám xe ô tô Huyndai Santafe, biển kiểm soát 98A-143.63, màu sơn nâu: Kính chắn gió phía trước bị tỳ nén rạn nứt, kích thước (0,90x0,60)m. Nắp ca bô bị tỳ nén bẹp méo cong vênh đẩy lùi từ trước về sau, kích thước (1,40x0,92)m, tâm cách đất 1,10m bong sơn. Logo phía trước đầu xe bị bật rời khỏi xe. Mặt ga lăng bị tỳ nén, nứt vỡ, mặt ngoài mài sát bám dính tạp chất màu tím kích thước (1,20x0,40)m, tâm cách đất 0,65m. Biển số trước bị tỳ nén, bẹp méo, cong vênh, bị mài sát nứt vỡ ốp nhựa, mòn kim loại bám dính tạp chất màu tím, màu đen, kích thước (0,47x0,12)m, tâm cách đất 0,52m. Ba đờ sốc trước bị tỳ nén nứt vỡ, mài sát mòn nhựa bám dính đèn hậu, chắn bùn bánh sau, biển số 98K1-087.83 và tạp chất màu tím, kích thước (1,40x0,70)m, tâm cách đất 0,58m. Giàn tản nhiệt trước đầu xe bị tỳ nén, bẹp lõm mài sát kim loại kích thước (0,50x0,40)m, tâm cách đất 0,65m. Túi khí phía trước hai bên bị bung ra. Phanh đỗ tản nhiệt đầu xe bị tỳ nén, cong vênh, đẩy lùi từ trước về sau. Kiểm tra không có camera giám sát hành trình trên xe ô tô 98A-143.63.

Kiểm tra đèn hậu, chắn bùn bánh sau, biển số 98K1-087.83 thấy: Đèn hậu: Ốp nhựa chính giữa màu đỏ, hai bên màu vàng tỳ nén nứt vỡ, khuyết, bật rời, mặt ngoài mài sát bám dính tạp chất màu trắng kích thước (0,31x0,12)m. Biển số: tỳ nén, cong vênh, bẹp lõm, nứt vỡ mài sát ốp nhựa và viền kim loại, bám dính tạp chất màu đen, màu nâu, kích thước (0,20x0,14)m. Chắn bùn bánh sau: bị tỳ nén bật khớp nối, nứt vỡ nhựa, mặt ngoài mài sát bám dính tạp chất màu đen, kích thước (0,52x0,36)m.

Kết quả khám xe mô tô biển kiểm soát 98K1-087.83, nhãn hiệu: HONDA, số loại: Dream, loại xe: Hai bánh, màu sơn: Nâu, số máy: HA08E1689795, số khung: 080XAY389589: Không có gương chiếu hậu bên phải, bát gương chiếu hậu bên trái bật rời khỏi xe. Yên xe bị tỳ nén rách da, kích thước (0,43x0,30)m. Giảm sóc sau bên trái bị tỳ nén cong vênh từ sau về trước bám dính tạp chất màu trắng kích thước (0,23x0,06)m, tâm cách đất 0,47m. Tay cầm phía sau bị tỳ nén cong vênh hướng từ sau về trước từ dưới lên trên. Đuôi xe bị tỳ nén cong vênh, vỡ ốp nhựa, hướng từ sau về trước từ dưới lên trên. Giảm sóc sau bên phải bị tỳ nén, bẹp méo, gãy khớp nối phía trên, hướng từ sau về trước. Đèn hậu chắn bùn phía sau, biển số phía sau bị bật rời khỏi xe. Vành bánh sau để lại 02 vết tỳ nén lần lượt vết (1) hướng từ ngoài vào trong, kích thước (0,21x0,01)m, tâm cách chân van 0,34m, vết (2) mái sát mòn kim loại bám dính bột đá, kích thước (0,1x0,01)m, tâm cách chân van 0,34m. Bánh lốp phía sau bị xì hết hơi, má lốp bên trái bán lốp sau để lại vết mài sát mòn cao su, hở xăm, kích thươc (0,20x0,06)m tâm cách chân van 0,24m; má lốp bên phải để lại vết mài sát mòn cao su, kích thước (0,20x0,03)m tâm cách chân van 0,39m. Ốp nhựa sườn xe bên trái bị bật rời khỏi xe, ốp nhựa sườn xe bên phải bị bật khớp nối. Ốp kim loại phía trên bánh sau bị tỳ nén cong vênh hướng từ sau về trước từ dưới lên trên, kích thước (0,20x0,15)m tâm cách đất 0,68m.

Kết quả khám nghiệm tử thi chị Trần Thị H: Chiều dài tử thi 1,56 m. Thể tạng phát triển bình thường. Tử thi đang trong giai đoạn mềm lạnh. Vùng đầu: Tóc đen, cắt ngang lưng. Vùng đỉnh chẩm phải có vết thương rách da sâu sát xương bờ mép nham nhở kích thước (9x6)cm, xung quanh sưng nề, kích thước (12x9)cm. Vùng mặt hai mắt nhắm tự nhiên, mũi miệng đọng máu màu đỏ, hai tai khô. Đầu trong cung lông mày phải, sống mũi có vết thương rách da, kích thước (6x4)cm, gãy xương sống mũi. Má phải có vết chợt da, kích thước (1,5x0,5)cm. Môi trên chợt rách da, bầm dập, kích thước (3,5x1,5)cm. Môi dưới có vết thương rách da có kích thước (4x1,5)cm. Vùng cổ: Không thấy dấu vết thương tích. Vai phải có đám chợt da, kích thước (10x3)cm. Vùng hông phải và mông phải có đám chợt da, kích thước (25x20)cm. Mông phải có vết chợt da, kích thước (8x2)cm, mông trái có hai vết chợt da, kích thước (10x8)cm và (3,5x3)cm. Vùng bụng: Không thấy dấu vết thương tích. Tay phải: Mặt sau 1/3 dưới cánh tay phải có đám chợt da bầm tím kích thước (11x5)cm. Ngón 1 bàn tay phải có hai vết chợt da, kích thước (0,5x0,5)cm và (0,2x0,1)cm, ngón 2 bàn tay phải có vết chợt da bầm tím, kích thước (2x2)cm. Tay trái: khủy tay trái có đám chợt da bầm tím, kích thước (5x2)cm. Chân phải: mặt ngoài 1/3 trên đùi phải có đám chợt da, kích thước (13x8)cm. Mặt ngoài 1/3 giữa cẳng chân phải có đám bầm tím chợt da, kích thước (9x5)cm. Mắt cá chân phải ngoài có vết chợt da, kích thước (2x1)cm. Mu bàn chân phải có vết thương rách da, kích thước (3x1,5)cm. Chân trái: mặt sau 1/3 dưới có 2 vết chợt da, kích thước (2x0,5)cm và (3x1,5)cm. Bộ phận sinh dục: không tổn thương, hậu môn không thoát phân. Gãy xương sườn bên trái số 6,7,8,9. Chọc hút qua màng phổi bên phải có nhiều máu không đông. Khám kỹ bên ngoài không phát hện tổn thương nào khác. Mổ tử thi: Bộc lộ mở rộng vết thương vùng đỉnh chẩm phải, thấy tụ máu dưới da, kích thước (17x12)cm. Vỡ xương sọ vùng đỉnh chẩm phải, kích thước (8x0,2)cm, qua khe xương vỡ có nhiều máu không đông màu đỏ chảy ra ngoài.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 4428/22/GĐPY ngày 12/9/2022 của Trung tâm Pháp y Bệnh viên đa khoa tỉnh Bắc Giang, kết luận nguyên nhân chết của chị Trần Thị H: “Chết do chấn thương sọ não, vỡ xương sọ, chảy máu nội sọ do tai nạn giao thông.

Cơ chế hình thành thương tích trên cơ thể Trần Thị H: Các thương tích do va chạm với vật tày diện rộng gây nên, không xác định được chiều hướng, lực tác động”.

Ngày 17/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Việt Yên ra Quyết định trưng cầu giám định số 372/QĐ-CSĐT, trưng cầu Viện Pháp y Quân đội Bộ Quốc phòng, giám định ADN và vấn đề có liên quan; Trưng cầu giám định số 373/QĐ-CSĐT, trưng cầu Viện Pháp y Quân đội Bộ Quốc phòng, giám định ma túy và nồng độ cồn đối với chị Trần Thị H và anh Thân Đức Cam. Tại Kết luận giám định ADN số HT389.22/PY-XNSH ngày 19/8/2022 của Viện Pháp y Quân đội Bộ Quốc phòng, kết luận:

“- Dấu vết trên tăm bông ghi: Dấu vết (3) có sinh phẩm của người, có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của Thân Văn Cam.

- Dấu vết trên tăm bông ghi: Dấu vết (4), Dấu vết (5) có sinh phẩm của người; có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của tử thi Trần Thị H.”

Tại Bản kết luận pháp y về hóa pháp số 866/PY-XNĐH ngày 31/8/2022 của Viện Pháp y Quân đội, Bộ Quốc phòng, kết luận:

“- Mẫu máu của Trần Thị H gửi giám định có Ethanol, nồng độ 49,8mg/100 ml máu.

- Mẫu máu của Thân Đức Cam gửi giám định có Ethanol, nồng độ 61,7mg/100 ml máu.

- Mẫu máu của Trần Thị H và Thân Đức Cam gửi giám định không phát hiện thấy các chất ma túy kể trên.”

Ngày 31/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang giám định cơ chế hình thành dấu vết trên hiện trường và các vấn đề khác có liên quan. Tại Kết luận giám định số 1780/KL-KTHS ngày 05/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:

“- Dấu vết chùn cong, vỡ khuyết, mài sát cao su, kim loại tại cụm đèn hậu, biển kiểm soát, chắn bùn bánh sau, giảm sóc sau bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98K1-087.83, có chiều hướng từ sau ra trước (ảnh số 9, 19, 21, 22 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong, nứt vỡ, mài sát sơn, nhựa, kim loại, bám dính chất màu nâu tại nắp capo, ba đờ sốc trước, mặt ga lăng, biển kiểm soát trước của xe ô tô biển kiểm soát 98A-143.63, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 7, 8, 10, 13, 14 bản ảnh khám phương tiện).

- Dấu vết chùn cong, bẹp lõm, mài sát nhựa, kim loại tại giàn tản nhiệt đầu xe ô tô biển kiểm soát 98A-143.63, có chiều hướng từ trước về sau (ảnh số 11 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong tại vành bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 98K1-087.83, có chiều hướng từ ngoài vào tâm bánh (ảnh số 19, 20 bản ảnh khám phương tiện).

- Dấu vết mảnh nhựa vỡ ký hiệu số 6 được gãy, vỡ ra từ đèn hậu của xe mô tô biển kiểm soát 98K1-087.83.

- Dấu vết mài trượt mặt đường, bám dính chất màu đen ký hiệu số 1 và dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 2 (thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường) phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98K1-087.83 bị đẩy, rê trên mặt đường tạo nên.

- Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98K1-087.83 với xe ô tô biển kiểm soát 98A-143.63 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết mài trượt mặt đường ký hiệu số 1 (thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường), thuộc chiều chuyển động bên phải theo hướng Tân Yên đi thành phố Bắc Giang.

- Chiều hướng: Tại thời điểm xảy ra va chạm hai phương tiện trong tư thế chuyển động đứng, cùng chiều.

- Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học.”

Tại Phiếu đo nồng độ cồn số 890064 vào 09 giờ 52 phút ngày 17/8/2022 của Công an huyện Việt Yên, xác định Lương Trung D có chỉ số đo nồng độ cồn trong hơi thở là 0,000 mg/l.

Ngày 26/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên và những vấn đề có liên quan đối với anh Thân Đức Cam. Các ngày 01/01/2023, 16/01/2023 và 10/02/2023, Cơ quan điều tra đã Quyết định dẫn giải anh Cam đến Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang giám định thương tích. Tuy nhiên, anh Cam và gia đình kiên quyết từ chối giám định thương tích.

Ngày 21/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên có Công văn số 651/CQĐT đề nghị Trung tâm kiểm định kỹ thuật phương tiện, thiết bị giao thông cơ giới đường bộ 98-01S thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang phối hợp kiểm tra an toàn kỹ thuật phương tiện đối với hệ thống lái, hệ thống phanh của xe ô tô 98A-143.63. Tại Công văn số 30/TTKĐ ngày 05/10/2022 của Trung tâm kiểm định kỹ thuật phương tiện, thiết bị giao thông cơ giới đường bộ 98-01S thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang, trả lời như sau:

Tại thời điểm kiểm tra (theo nội dung Công văn số 651/CQĐT ngày 21/9/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên), tại dây chuyền kiểm định số 3 - Trung tâm Kiểm định kỹ thuật phương tiện, thiết bị giao thông cơ giới Bắc Giang: Hệ thống lái hoạt động ổn định, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật (theo nội dung của Thông tư 16/2021 ngày 12/8/2021 của Bộ giao thông vận tải). Hệ thống phanh hoạt động ổn định, hiệu quả phanh đạt (theo nội dung của Thông tư 16/2021 ngày 12/8/2021 của Bộ giao thông vận tải).

Ngày 09/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Vệt Yên yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên định giá xác định giá trị thiệt hại của xe ô tô và xe đạp trọng vụ tai nạn. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 26 ngày 13/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên kết luận: “Phần tài sản bị hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, biển số 98K1-087.83 vào tháng 8/2022 là 4.470.000 đồng. Phần tài sản bị hư hỏng của xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại xe Santafe, biển số 98A-143.63 vào tháng 8/2022 là 39.700.000 đồng.”

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Việt Yên còn thu giữ: 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Lương Trung D; 01 chứng nhận kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc, 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô 98A-143.63. Thu giữ 01 xe mô tô 98D1-389.30 của chị H gửi ở nhà anh Thân Đức Quả, sinh năm 1978, trú tại Tân Lập, xã Ngọc Lý, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (anh Quả là em trai anh Cam).

Cơ quan điều tra đã làm rõ chiếc xe ô tô 98A-143.63 là tài sản của ông Lương Cao G; chiếc xe mô tô 98K1-087.83 anh Cam điều khiển chở chị H là tài sản của chị Vũ Thị H, sinh năm 1969 (vợ anh Cam). Ngày 12/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vệt Yên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho ông Lương Cao G giấy tờ và xe ô tô 98A-143.63; trả lại cho chị Vũ Thị H xe mô tô 98K1-087.83 và 01 mảnh nhựa vỡ của xe; trả lại cho anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 2001 là con đẻ chị H được gia đình ủy quyền tham gia tố tụng chiếc xe 98D1-389.30; trả lại cho Lương Trung D 01 giấy phép lái xe hạng B2. Ông Giang và chị Hằng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại đối với phần bị hư hỏng của xe ô tô 98A-143.63 và xe mô tô 98K1-087.83.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo Lương Trung D đã bồi thường cho gia đình chị Trần Thị H số tiền 300.000.000 đồng; bồi thường cho anh Thân Đức Cam số tiền 570.000.000 đồng. Hiện đại diện hợp pháp của gia đình bị hại Trần Thị H, bản thân anh Cam và gia đình đã nhận đủ số tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì và có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo Lương Trung D.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Lương Trung D đã khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 06/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên đã truy tố bị cáo Lương Trung D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lương Trung D 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không hành nghề lái xe kinh doanh nên đề nghị không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đại diện của bị hại có mặt tại phiên tòa đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo Lương Trung D nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự.

. Về sự vắng mặt của người đại diện hợp pháp và người liên quan nhưng đã có đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa và có lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

. Về cấu thành tội phạm: Khoảng 21 giờ ngày 16/8/2022, D điều khiển xe ô tô 98A-143.63 đi theo hướng huyện Tân Yên đi thành phố Bắc Giang. Khi đến đoạn đường Quốc lộ 17 thuộc thôn Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, Lương Trung D thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn (vi phạm khoản 1, Điều 12 Luật giao thông đường bộ; điểm a, khoản 2, Điều 11 Thông tư liên tịch số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải) nên đã để xe ô tô 98A-143.63 đâm vào phía sau xe mô tô 98K1-087.83 do anh Thân Đức Cam điều khiển đi phía trước cùng chiều, chở theo sau là chị Trần Thị H. Sau khi xảy ra tai nạn Lương Trung D đã điều khiển xe ô tô bỏ khỏi hiện trường xảy ra vụ tai nạn (vi phạm điểm a, b khoản 1 Điều 38 Luật giao thông đường bộ). Hậu quả, chị H, anh Cam bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang; chị H tử vong tại bệnh viện cùng ngày 16/8/2022; xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng có tổng giá trị thiệt hại 44.170.000 đồng.

. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi vụ tai nạn xảy ra bị cáo Lương Trung D đã đến Công an huyện Việt Yên đầu thú; quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại; đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện bằng việc vị cáo chưa bị kết án, có nơi cư trú rõ ràng nên cần xem xét xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Lương Trung D không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo Lương Trung D đã bồi thường cho gia đình chị Trần Thị H số tiền 300.000.000 đồng; bồi thường cho anh Thân Đức Cam số tiền 570.000.000 đồng. Hiện đại diện hợp pháp của gia đình bị hại Trần Thị H, bản thân anh Cam và gia đình đã nhận đủ số tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo Lương Trung D nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không hành nghề lái xe kinh doanh nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả cho ông Lương Cao G giấy tờ và xe ô tô 98A-143.63; trả lại cho chị Vũ Thị H xe mô tô 98K1-087.83 và 01 mảnh nhựa vỡ của xe; trả lại cho anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 2001 là con đẻ chị H được gia đình ủy quyền tham gia tố tụng chiếc xe 98D1-389.30; trả lại cho Lương Trung D 01 giấy phép lái xe hạng B2.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lương Trung D 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lương Trung D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Cỡ chữ