vanban.org

Bản án 54/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Triệu Văn Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2023. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUẦN GIÁO
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HS-ST
Ngày 25-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Tằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Huân và ông Quàng Văn Tại.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thào A Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Triệu Văn Q, tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 04 tháng 5 năm 1991, tại huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn P (đã chết) và con bà Hứa Thị P, sinh năm 1957; chưa có vợ, con; tiền án: 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số 90/2016/HSST ngày 22/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2023 đến ngày 18/01/2023, tạm giam từ ngày 18/01/2023 cho đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 19 giờ 50 phút, ngày 15 tháng 01 năm 2023, Tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo phối hợp với tổ công tác theo Kế hoạch 1266 làm nhiệm vụ tại khu vực bản Tân Lập, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo kiểm tra xe khách biển kiểm soát 26B-001.80 chạy tuyến Điện Biên – Lạng Sơn phát hiện, bắt quả tang Triệu Văn Q đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần bò bên trái phía trước đang mặc của bị cáo 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bọc bên trong giấy bạc màu trắng bên trong chứa các cục bột màu trắng nghi ma túy (loại Heroine).

Ngày 15/01/2023 tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định: Mẫu các cục bột màu trắng thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,05 gam, gửi toàn bộ làm mẫu vật trưng cầu giám định chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 191/KL-KTHS ngày 18/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu các cục bột màu trắng thu giữ của Triệu Văn Quy gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine, hoàn lại đối tượng giám định 0,02 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Triệu Văn Q khai nhận: Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 13/01/2023 tại thôn My Điền 2, xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; bị cáo mua được của một nam thanh niên không biết họ, tên, địa chỉ, khoảng 35 tuổi 01 (một) gói Heroine gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng bọc bên trong giấy bạc màu trắng với giá 100.000đồng, việc mua bán chỉ có bị cáo và người nam thanh niên, không có ai chứng kiến tham gia cùng. Mua được Heroine bị cáo cầm trên tay đi bộ về phòng trọ tại thôn Liễu, xã Tân Mỹ, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và lấy ra một ít sử dụng bằng hình thức hít, số còn lại bị cáo gói lại như cũ cất giấu vào túi quần bò đang mặc trên người. Đến 19 giờ 00 phút cùng ngày bị cáo bắt xe ô tô khách đi lên tỉnh Điện Biên chơi, đến 11 giờ ngày 14/01/2023 bị cáo đi đến xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên và lấy gói Heroine ra sử dụng một ít bằng hình thức hít, số còn lại bị cáo gói lại như cũ. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 15/01/2023 bị cáo bắt xe ô tô khách biển kiểm soát 27B-001.80 chạy tuyến Điện Biên – Lạng Sơn đi về, đến 19 giờ 50 phút cùng ngày khi xe khách đi đến bản Tân Lập, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo, tổ công tác Công an kiểm tra và phát hiện, bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Cáo trạng số: 36/CT-VKSTG ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo Triệu Văn Q về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như Cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Văn Q từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,02 gam Heroine còn lại, 01 (một) mảnh giấy bạc màu vàng, 01 (một) mảnh giấy bạc màu trắng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp án toàn bộ phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố, không có lời bào chữa, không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 19 giờ 50 phút ngày 15/01/2023, tại bản Tân Lập, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Bị cáo Q bị bắt quả tang khi đang cất giấu tại túi quần bò bên trái phía trước đang mặc 0,05 (không phẩy không năm) gam Heroine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, kết luận giám định, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Q tàng trữ trái phép 0,05 gam Heroine, khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ dưới mức khối lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng do bị cáo có 01 tiền án, bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số: 90/2016/HSST ngày 22/11/2016, tính đến ngày bị cáo phạm tội mới (ngày 15/01/2023) chưa được xóa án tích nên tiền án này là tình tiết định tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đối với bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;”

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo là người nghiện ma túy và từng bị xét xử về tội phạm ma túy nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội; biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm. Hơn nữa ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội vì vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân: Năm 2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đến ngày 20/10/2021 bị cáo chấp hành xong án phạt, tính đến ngày 15/01/2023 bị cáo phạm tội mới chưa được xóa án tích, bị cáo có tiền án. Tuy nhiên tiền án này của bị cáo là tình tiết định tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đối với bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Do đó bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng, bị cáo đã từng bị xét xử, là người có tiền án, căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân. Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 của Bộ luật Hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời hạn nhất định để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.

Đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là có căn cứ và phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy, nghề nghiệp chính của bị cáo trước khi bị bắt là làm nông nghiệp, bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đối với 0,02 gam Heroine (vật chứng còn lại, hoàn lại sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 (một) mảnh giấy bạc màu vàng, 01 (một) mảnh giấy bạc màu trắng là công cụ dùng vào việc phạm tội; 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của bị cáo Triệu Văn Quy là vật không có giá trị. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là cá nhân thuộc hộ cận nghèo và bị cáo có đơn xin miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các vấn đề khác: Đối với người nam thanh niên, khoảng 35 tuổi, không rõ họ, tên, địa chỉ, đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 13/01/2023. Do bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo không có căn cứ điều tra xác minh nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Triệu Văn Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2023.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong chứa 0,02 (không phẩy không hai) gam Heroine.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong gồm 01 (một) mảnh giấy bạc màu vàng, 01 (một) mảnh giấy bạc màu trắng và 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Triệu Văn Q được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Triệu Văn Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 25/4/2023).

Cỡ chữ