vanban.org

Bản án 54/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Toan E phạm tội “Đánh bạc”,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Toan E 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Nguyễn Văn Toan E cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Toan Em phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Toan E phạm tội “Đánh bạc”,
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN THẠNH PHÚ
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HS-ST
Ngày: 27-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Tú

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thanh Hùng

2. Ông Lê Thành Chì

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hữu Văn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Xem - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 52/2023/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 9 năm 2023 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Văn Toan E, sinh năm: 1992.

+ Nơi sinh: tỉnh Bến Tre;

+ Nơi cư trú: số 78/3 ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.

+ Nghề nghiệp: làm thuê;

+ Trình độ học vấn: không biết chữ;

+ Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam;

+ Con ông Nguyễn Văn L (còn sống) và bà Nguyễn Thị N (còn sống);

+ Bị cáo chưa có vợ, con.

+ Tiền án: không có;

+ Tiền sự: có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 53/QĐ-XPHC ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Trưởng Công an xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre, xử phạt số tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt vào ngày 19 tháng 9 năm 2022.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Ng i có quy n l i, ngh a v liên quan đ n v án:

1/ Nguyễn Văn Trực A, sinh năm 1989, địa chỉ: số 106/3, ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. (có mặt).

2/ Nguyễn Văn T, sinh năm 2002, địa chỉ: số 26/7, ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. (có mặt).

3/ Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1994, địa chỉ: số 71/4, ấp An Khương, xã An Thuận, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. (có mặt).

4/ Nguyễn Thanh S, sinh năm 1982, địa chỉ: số 9/3, ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. (có đơn xin vắng mặt).

5/ Trương Văn B, sinh năm 1978, địa chỉ: số 9/3, ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. (có đơn xin vắng mặt).

- Ng i làm ch ng: Phạm Văn T1, sinh năm 1982; địa chỉ: số 47/2, ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt).

- Ng i bào ch a cho bị cáo: Bà Lê Thị Mộng T – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bến Tre. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 17 giờ 30 phút, ngày 21/01/2023, Công an xã A bắt quả tang điểm đánh bạc bằng hình thức lắc bầu cua được thua bằng tiền tại nhà ông Trương Văn B tại ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. Tại hiện trường lực lượng Công an giữ được 03 người đang tham gia đánh bạc gồm: Nguyễn Văn Trực A, Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành Đ.

Tang vật thu giữ: 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua, gồm: 03 hạt bầu cua hình lập phương có 06 mặt, mỗi mặt in hình con cua, con cá, con tôm, con gà, trái bầu, con nai; 01 miếng giấy hình chữ nhật có in hình con cua, con cá, con tôm, con gà, trái bầu, con nai và số tiền là 1.065.000 đồng, trong đó: tạm giữ trên người Nguyễn Văn T số tiền là 500.000 đồng và tạm giữ trên người Nguyễn Văn Trực A số tiền 565.000 đồng.

Kết quả điều tra đã xác định được như sau: Nguyễn Văn Toan E đã có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc bị Trưởng Công an xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 53/QĐ-XPHC ngày 31/8/2022 với số tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt xong vào ngày 19/9/2022 nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền cụ thể như sau: Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 21/01/2023 (nhằm ngày 30/12/2022 âm lịch, tết Quý Mão), Nguyễn Văn Toan E đến nhà ông Trương Văn B tại ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre để thắp nhang cho ông bà. Lúc này, nhà ông B đi vắng, không ai ở nhà. Tại đây, Toan E thấy có bộ dụng cụ lắc bầu cua có sẵn để tại vị trí dưới nền nhà gần chỗ giường ngủ nhà ông Bịch nên nảy sinh ý định chơi đánh bạc. Lúc này, Nguyễn Văn Trực A, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thành Đặng đang uống nước tại quán gần nhà ông Bịch, Toan E đến rủ mọi người chơi. Tất cả đều đồng ý tham gia chơi đánh bạc, do Toan E làm cái lắc và thống nhất mỗi ván đặt tiền nhiều nhất là 100.000 đồng.

Tất cả cùng thống nhất cách thức chơi đánh bạc bằng hình thức lắc bầu cua như sau: người chơi s sử dụng 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua gồm có 03 hạt bầu cua có hình lập phương vuông kích thước giống nhau có 06 mặt hình vuông in hình lần lượt hình con cua, con cá, con tôm, con gà, trái bầu và hình con nai, 01 miếng giấy có in hình lần lượt hình của con cua, con cá, con tôm, con gà, trái bầu và hình con nai; 01 nắp cân và 01 cái thùng nhựa; ba hạt bầu cua được bỏ vào nắp cân đậy thùng nhựa lại để không ai được nhìn thấy và cử ra 01 người làm nhà cái để tính thắng thua với những người đặt cược, sau đó nhà cái lắc đồng thời và kết quả được giữ kín. Người chơi đặt tiền cược vào miếng giấy có in hình lần lượt hình con cua, con cá, con tôm, con gà, trái bầu và hình con nai, có thể đặt một hoặc nhiều hình mà mình muốn. Khi việc đặt tiền đã xong, nhà cái mở thùng nhựa ra, công bố kết quả. Nếu trong 03 hạt bầu cua có mặt hướng lên trên xuất hiện hình mà người chơi đã đặt cược tiền thì họ s được lấy lại tiền mà mình đã đặt cược và nhà cái phải trả số tiền bằng với số hình đó xuất hiện nhân với số tiền cược mà người chơi đã đặt cược. Nếu 03 hạt bầu cua có mặt hướng lên trên không xuất hiện hình mà người chơi đã đặt cược tiền thì số tiền mà người chơi đã đặt cược thuộc về người làm nhà cái.

Nguyễn Văn Toan E sử dụng số tiền tham gia đánh bạc là 470.000 đồng, với vai trò làm cái lắc bầu cua nhiều ván, kết quả Toan E thua số tiền 50.000 đồng. Khi lực lượng Công an đến hiện trường Toan E bỏ chạy thoát. Sau đó được mời làm việc, Toan E đã thừa nhận hành vi và giao nộp số tiền 420.000 đồng.

Nguyễn Văn T sử dụng số tiền tham gia đánh bạc là 500.000, T tham gia đặt cược 02 ván, mỗi ván 20.000 đồng. Kết quả Tiền thắng được 01 ván và thua 01 ván nên huề tiền.

Nguyễn Thành Đ sử dụng số tiền tham gia đánh bạc là 430.000 đồng, Đ tham gia đặt cược 04 ván, mỗi ván đặt 40.000 đồng. Kết quả, Đ thắng 02 ván và thua 02 ván nên huề tiền. Khi lực lượng Công an đến hiện trường, Đ bỏ chạy nên bị té xuống mương nước và số tiền 430.000 đồng bị rớt mất không tìm được.

Nguyễn Văn Trực A sử dụng số tiền tham gia đánh bạc là 515.000 đồng, Trực A tham gia đặt cược 04 ván, mỗi ván đặt từ 20.000 đồng đến 30.000 đồng. Kết quả Trực A thắng được 50.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền mà Nguyễn Văn Toan E, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thành Đ và Nguyễn Văn Trực A dùng vào việc đánh bạc vào là 1.915.000 đồng, gồm: tiền dùng vào việc đánh bạc của Nguyễn Văn Toan E là 420.000 đồng, tiền dùng vào việc đánh bạc của Nguyễn Văn T là 500.000 đồng, tiền dùng vào việc đánh bạc của Nguyễn Thành Đ là 430.000 đồng, tiền dùng vào việc đánh bạc của Nguyễn Văn Trực A là 565.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 49/CT-VKS, ngày 11/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Toan E về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận phát biểu quan điểm giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử có nội dung như sau:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Toan E từ 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Do bị cáo không có thu nhập ổn định, bị cáo thuộc dạng hộ cận nghèo nên không khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

+ Buộc Nguyễn Thành Đ phải nộp số tiền dùng vào việc đánh bạc là 430.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền mà bị cáo Nguyễn Văn Toan E; người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan Nguyễn Văn Trực A và Nguyễn Văn T dùng vào việc đánh bạc là 1.485.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0000448, số 0000449 và số 0000450 cùng ngày 26/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua, gồm: 03 hạt bầu cua có hình lập phương vuông kích thước giống nhau, mỗi hạt có 06 mặt mỗi mặt tương ứng với các hình con cua, con cá, con tôm, con gà, trái bầu và hình con nai; 01 miếng giấy hình chữ nhật có in hình con cua, con cá, con tôm, con gà, trái bầu và hình con nai.

- Các vật chứng được tạm gửi tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú theo Quyết định chuyển vật chứng số 33/QĐ-VKS ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 9 năm 2023.

- Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn Trực A, Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành Đ qua điều tra xác định các đối tượng này không có tiền án, tiền sự và số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên không phạm tội kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn Trực A, Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành Đ theo quy định. Đối với Nguyễn Thanh S và Trương Văn B không biết bị cáo sử dụng địa điểm để đánh bạc và không nhận các lợi ích từ những người tham gia đánh bạc nên không phạm tội.

Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan Nguyễn Thanh S và Trương Văn B không yêu cầu gì trong vụ án này.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan Nguyễn Thành Đ đồng ý nộp số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 430.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với tội danh, điều luật và các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn Toan E. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng nh nhất theo mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Toan E đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện giống như nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung v án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ v án và k t quả tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nh sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh Phú, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp. Tại phiên tòa người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án là Nguyễn Thanh S, Trương Văn B và người làm chứng Phạm Văn T1 vắng mặt, bị cáo không có ý kiến, đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục phiên tòa do sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Thấy rằng, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án là Nguyễn Thanh S, Trương Văn B và người làm chứng Phạm Văn T1 đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên phiên tòa v n tiếp tục xét xử.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Toan E thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật; lời khai nhận tội của các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với biên bản phạm sự việc, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn Toan E có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc bị xử phạt vi phạm hành chính theo quyết định số 53/QĐ-XPHC ngày 31/8/2022 của Trưởng Công an xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre với số tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt xong vào ngày 19/9/2022 nhưng chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử lý hành chính. Lúc 17 giờ 30 phút, ngày 21/01/2023 tại ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Văn Toan E tham gia đánh bạc bằng hình thức lắc bầu cua được thua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 1.915.000 đồng. Do đó, Cáo trạng 49/CT-VKS ngày 11/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Toan E về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Ng i nào đánh bạc trái phép d ới bất kỳ hình th c nào đ c thua bằng ti n hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đ n d ới 50.000.000 đồng hoặc d ới 5.000.000 đồng nh ng đã bị xử phạt vi phạm hành chính v hành vi này hoặc hành vi quy định tại Đi u 322 của Bộ luật này hoặc đã bị k t án v tội này hoặc tội quy định tại Đi u 322 của Bộ luật này, ch a đ c xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt ti n từ 20.000.000 đồng đ n 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam gi đ n 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đ n 03 năm”.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn Toan E là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến an ninh, trật tự công cộng, gây hoang mang, bất bình trong đời sống của nhân dân tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo ý thức được đánh bạc là một tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật nhưng bị cáo v n cố ý thực hiện nhằm sát phạt chiếm đoạt tiền của nhau, điều đó đã thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo là người đã thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự nên phải gánh chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả do hành vi của bị cáo đã trực tiếp gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn Toan E không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thuộc đối tượng hộ cận nghèo nên đây là các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo theo quy định điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn Toan E chưa có tiền án, đã sử dụng tiền sự để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo trong vụ án này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung cho cộng đồng là phù hợp với Điều 36 Bộ luật Hình sự. Do điều kiện, hoàn cảnh gia đình, hoản cảnh kinh tế thì thấy, bị cáo không có thu nhập ổn định, bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền và không khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và áp dụng các biện pháp tư pháp: như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên ghi nhận.

Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn Trực A, Nguyễn Văn Tiền và Nguyễn Thành Đ qua điều tra xác định các đối tượng này không có tiền án, tiền sự và số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên không phạm tội, kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn Trực A, Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành Đ theo quy định. Đối với Nguyễn Thanh S và Trương Văn B không biết bị cáo sử dụng địa điểm để đánh bạc và không nhận các lợi ích từ những người tham gia đánh bạc nên không phạm tội.

9 Đối với Nguyễn Thanh S và Trương Văn B không có yêu cầu gì trong vụ án này nên không xem xét giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên phân tích đánh giá hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo, hậu quả của hành vi, tính chất mức độ hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự là phù hợp với tính khách quan của vụ án, đúng với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11 Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo về đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Toan E phạm tội “Đánh bạc”,

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36, Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Toan E 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Nguyễn Văn Toan E cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt chuyển đi nơi khác thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục có trách nhiệm thông báo ngay cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án kèm theo hồ sơ của người đó để Tòa án thực hiện các thủ tục cần thiết giao cho cơ quan, tổ chức nơi người đó chuyển đến tiếp tục giám sát, giáo dục.

Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Văn Toan E.

2. Về áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Buộc Nguyễn Thành Đ phải nộp số tiền dùng vào việc đánh bạc là 430.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền mà bị cáo Nguyễn Văn Toan E; người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan Nguyễn Văn Trực A và Nguyễn Văn T dùng vào việc đánh bạc là 1.485.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0000448, số 0000449 và số 0000450 cùng ngày 26/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua, gồm: 03 hạt bầu cua có hình lập phương vuông kích thước giống nhau, mỗi hạt có 06 mặt mỗi mặt tương ứng với các hình con cua, con cá, con tôm, con gà, trái bầu và hình con nai; 01 miếng giấy hình chữ nhật có in hình con cua, con cá, con tôm, con gà, trái bầu và hình con nai.

Các vật chứng được tạm gửi tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú theo Quyết định chuyển vật chứng số 33/QĐ-VKS ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 9 năm 2023.

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Nguyễn Văn Toan E được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ