- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TO, TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/HS - ST Ngày 12/7/2023 V/v: Nguyễn Văn D“tàng trữ trái phép chất ma túy”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TO, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông NGUYỄN TIẾN HÙNG
Các hội thẩm nhân dân: Ông NGUYỄN BÁ TUẤN và Ông LÊ HUY TRỌNG.
Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà PHẠM ANH BÍCH – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TO.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TO tham gia phiên tòa:
Bà NGUYỄN THỊ HẠNH – Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại Phòng xét xử trực tuyến số 3 Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 48/2023/TLST- HS ngày 23 tháng 6 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST - QĐ ngày 28 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn D, Tên gọi khác: Không có.Giới tính: Nam.Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1990.Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Tổ dân phố 12, phường ĐM, quận HĐ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 07/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không có. Họ tên bố: Nguyễn Tráng T, sinh năm: 1963. Họ tên mẹ: Lê Thị C, sinh năm: 1963. Anh, chị em ruột: Có 03 anh, em, bị cáo là con thứ ba. Vợ, con: Chưa có.Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 12/12/2013 bị Tòa án nhân dân quận HĐ, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2023. tại Trại tạm giam số 02 Công an thành phố Hà Nội. có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn D là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 12 giờ 05 phút ngày 23/5/2023, D đi xe ô tô bus đến khu vực thôn Thượng, xã BM, huyện TO, thành phố Hà Nội, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, D gặp và mua được của người đàn ông không quen biết,khoảng 35-40 tuổi 01 gói ma túy loại heroin, với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D cầm gói ma túy ở tay trái và đi bộ tìm nơi sử dụng thì thì bị lực lượng Công an xã BM phát hiện bắt quả tang cùng tang vật của vụ án. Cùng ngày, Công an xã BM đã bàn giao D cùng tang vật của vụ án đến Công an huyện TO.
Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột màu trắng (D khai là ma túy);
Tại Kết luận giám định số 3346/KL-KTHS ngày 30/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:
“- Chất bột màu trắng bên trong 01 giấy bạc là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,225 gam.”
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TO, Thành phố Hà Nội thực hiện quyền công tố, luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng số: 48/CT – VKS ngày 22/6/2023.
Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D mức hình phạt từ: 15(mười lăm) tháng tù đến: 18(mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo;
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy tang vật hoàn lại sau giám định.
Bị cáo D không bào chữa và tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ;
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy trình Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và không kêu oan. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
.Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, tang vật thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được kiểm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để xác định:
Ngày 23/5/2023 Nguyễn Văn D đi xe ô tô bus tới khu vực thôn Thượng, xã BM, huyện TO, thành phố Hà Nội, mua được của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy, loại heroin, khối lượng 0,225, mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, D cầm ở tay trái và đi bộ tìm chỗ sử dụng thì bị Cơ quan Công an bắt giữ.
Bản Cáo trạng số: 48/CT – VKS ngày 22/6/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện TO, Tp. Hà Nội đã truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017)là có căn cứ đúng người, đúng pháp luật.
Điều 249 BLHS. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động quản lý các chất cấm, gây nghiện, xâm phạm đến an ninh, trật tự địa phương, nơi công cộng, ảnh hưởng đến sức khỏe của chính bản thân người sử dụng và còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, vì vậy cần có một mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
.Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
.Tình tiết tăng nặng: không
.Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã khai báo thành khẩn khai báo, nhận thức rõ hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho chính bản thân, gia đình và xã hội, ăn năn hối cải vì vậy cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
.Về hình phạt bổ sung: Xét bản thân bị cáo việc làm không ổn định vì vậy miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy: Nguyễn Văn D khai nhận mua của một người đàn ông khoảng 35-40 tuổi, không quen biết, Cơ quan CSĐT – Công an huyện TO đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không làm rõ được về người bán ma túy để xử lý trong vụ án này nên không xem xét.
.Về tang vật: Chất ma túy trong phong bì thư hoàn lại sau giám định cần tiêu hủy.
.Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 thì bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH;
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D, phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Nguyễn Văn D: 15(mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 23/5/2023.
3.Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015. Tịch thu tiêu hủy chất ma túy hoàn lại sau giám định đã được niêm phong trong bì thư của phòng PC09 – Công an Hà Nội có chữ ký của bị cáo Nguyễn Văn D, đồng chí Ngô Mạnh Thế và chữ ký giám định viên.
Toàn bộ tang vật, vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận tài liệu,vật chứng giữa cơ quan điều tra công an huyện TO và Chi cục thi hành án Dân sự huyện TO lập ngày 26 tháng 6 năm 2023.
4. Án phí và quyền kháng cáo của bị cáo: Áp dụng các điều 136.331.333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp: 200.000 đồng tiền( Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tp.Hà Nội; - Sở Tư pháp Hà Nội; - VKSND Huyện TO; - Công an Huyện TO; - Bị cáo; - UBNDP ĐM; - Lưu Hồ Sơ vụ án. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ NGUYỄN TIẾN HÙNG THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |