vanban.org

Bản án 54/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 13/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Phi Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Phi Đ 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Phi Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HS-ST
Ngày: 13 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lưu Đình Tâm

2. Ông Quách Hà Vính

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Đoàn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 13/07/2023, tại trụ sở TAND huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2023/TLST-HS, ngày 13/6/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2023/QĐXXST-HS, ngày 28/6/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Phi Đ; sinh ngày: 18/11/1978, tại phường T, Quận B, Thành phố H; nơi cư trú: T 3, phường T, Quận B, Thành phố H; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn H, con bà: Ngô Thị H; Có vợ là Nguyễn Thị Bích T và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/12/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng:

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Bùi Văn T, sinh năm: 1972

Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T1, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Phi Đ sinh năm 1978, trú tại T 3, phường T, Quận B, Thành phố H có giấy phép lái xe số 01xxxxxxxxxxx, hạng D do Tổng Cục Đường bộ Việt Nam cấp ngày 24/6/2020, là lái xe hợp đồng cho Công ty TNHH B, có địa chỉ tại phường P, quận T, thành phố H.

Theo sự điều động của công ty, sáng ngày 09/10/2022, Trần Phi Đ điều khiển xe ô tô chở khách loại 29 chỗ, biển kiểm soát 29B-1xxxxxx chở một số khách du lịch từ Hà Nội đi đến khu du lịch Phù Luông, thuộc huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa để tham quan, nghỉ dưỡng. Sau khi tham quan, nghĩ dưỡng tại đây, đến sáng ngày 10/10/2022, Trần Phi Đ điều khiển xe ô tô chở khách du lịch quay về khu suối cá thuộc huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa để khách tham quan, sau đó trở về Hà Nội. Khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, Trần Phi Đ điều khiển xe ô tô trên đường Hồ Chí Minh theo hướng Cẩm Thủy đi tỉnh Hòa Bình, khi đi đến Km512+150, thuộc địa phận thôn Quảng Trung, xã Thạch Quảng, huyện Thạch Thành, Đ quan sát thấy cách xe ô tô do Đ điều khiển khoảng 200 mét, ở phần đường đi phía trước, sát lề đường bên phải, gần hộ lan tôn đường có anh Bùi Thanh T, sinh năm 1980, trú tại thôn Q, xã T, huyện Thạch Thành và 01 xe đạp. Tại thời điểm này, anh T đang đứng bên cạnh chiếc xe đạp của mình, nhưng do trời nắng chói, bản thân Đ đang buồn ngủ nên Đ không nhìn rõ anh T đang đạp xe đi hay đang đứng tại chỗ. Lúc này, trên xe có chuông báo tin nhắn điện thoại, Đ nghĩ rằng có người nhắn tin cho mình nên Đ dùng tay trái cầm vô lăng điều khiển xe, còn tay phải lấy điện thoại đang để ở hộc để đồ bên phải để kiểm tra điện thoại. Sau khi cầm điện thoại ở hướng trước mặt, Đ nhìn xuống màn hình điện thoại, dùng tay phải mở khóa điện thoại rồi vào các thư mục để kiểm tra xem có tin nhắn nào đến không, không quan sát phần đường đi phía trước để điều khiển xe nên xe ô tô do Đ điều khiển đã va chạm với anh Bùi Thanh T, làm anh T văng về phía trước, bên phải qua hộ lan tôn theo chiều di chuyển của xe ô tô, cách mép đường khoảng 05 mét, trên phần đường nhựa dân sinh phía dưới; xe đạp bị đổ, nằm nghiêng bên trái, sát lề đường. Hậu quả, anh T bị thương, sau đó tử vong vào hồi 16 giờ 00 phút cùng ngày tại nhà riêng, xe ô tô bị hư hỏng nhẹ.

Ngay sau khi tiếp nhận thông tin về vụ việc, các cơ quan chức năng đã phối hợp tạm giữ phương tiện, tài liệu có liên quan, tiến hành các hoạt động điều tra, xác minh vụ việc theo quy định, kết quả cụ thể như sau:

* Khám nghiệm hiện trường, phương tiện, rà soát Camera:

Tiến hành khám nghiệm hiện trường xách định, đoạn đường xảy ra vụ tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường rải nhựa bằng phẳng, lòng đường rộng 720cm, hai bên có lề đường bê tông rộng đều 50cm, hai bên lề đường có hộ lan tôn, ở giữa đường có vạch kẻ sơn vàng nét đứt, kích thước 300 x 15cm. Cách hiện trường 9300cm về hướng đi Cẩm Thủy có biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên bên trái, bên phải. Từ hai phía đến hiện trường không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn. Lấy hướng từ Cẩm Thủy đi tỉnh Hòa Bình làm hướng chuẩn, lấy mép đường nhựa bên phải theo hướng chuẩn làm mép chuẩn (ký hiệu là A), lấy cột Km số H2/512 trên lề đường bên trái theo hướng chuẩn làm mốc cố định (ký hiệu là B), tiến hành dựng lại hiện trường dựa trên kết quả khám nghiệm hiện trường của Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Thạch Thành và các dấu vết còn lưu lại tại hiện trường, xác định được vị trí các dấu vết, phương tiện tại hiện trường như sau:

- Vị trí vết số 1: là vị trí 01 chiếc xe đạp cũ màu đen, không rõ nhãn hiệu, đầu xe bị quay ngoặt lại và hướng về hướng chuẩn, hơi chếch vào lề đường, đuôi xe quay hướng ngược lại; tâm trục bánh trước cách (A) 65cm, tâm trục bánh sau trùng với (A) và cách (B) 4653cm.

- Vị trí số 2: là hệ thống vết cà trượt không liên tục nằm trên lề đường bên phải và phần sườn đất lề đường bên phải tiếp giáp với đường dân sinh ở dưới, kích thước 485 x 208cm, vết có chiều hướng ra lề đường và hơi chếch theo hướng chuẩn, đầu vết cách tâm trục bánh trước xe đạp (1) 170cm, cách (A) 50cm, cuối vết cách (A) 295cm.

- Vị trí số 3: Là một vết máu không rõ hình, kích thước 20 x 10cm, nằm dưới mặt đường nhựa dân sinh bên phải theo hướng chuẩn tiếp giáp với khu vực hiện trường, tâm vết cách (A) 555cm, cách cuối vết (2) 270cm.

- Vị trí số 4: Là vị trí xe ô tô, biển kiểm soát 29B-1xxxxxx, xe dừng theo hướng chuẩn, tâm trục bánh trước bên phải cách (A) 75cm, tâm trục bánh sau bên phải cách (A) 85cm, cách tâm vết số (3) 2350cm, cách tâm trục bánh sau xe (1) 2960cm.

Sau khi khám nghiệm hiện trường, các cơ quan chức năng đã phối hợp khám nghiệm phương tiện và trưng cầu giám định để xác định tốc độ, vị trí va chạm giữa phương tiện với người, vị trí va chạm trên mặt đường. Tại bản Kết luận giám định số 3817/KL-KTHS ngày 04/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

“1. Không phát hiện dấu hiệu va chạm giữa xe ô tô biển số 29B-1xxxxxx và xe đạp.

2. Không đủ cơ sở để xác định va chạm giữa xe ô tô biển số 29B-1xxxxxx và anh Bùi Thanh T.

3. Các dấu vết tại mặt trước cần gương chiếu hậu bên phải; mặt trước góc bên phải trán xe cách thành xe bên phải 17cm; mặt trước ốp nhựa đèn xi nhan trước bên phải; mặt trước góc bên phải Ba đờ sốc trước xe ô tô biển số 29B-1xxxxxx (ảnh 5 đến 10) phù hợp va chạm với người và chất liệu vải sợi

4. Không đủ cơ sở để xác định tố độ của xe ô tô biển số 29B-1xxxxxx, xe đạp và anh Bùi Thanh T tại thời điểm xảy ra tai nạn”

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã kiểm tra, sao lưu 02 tệp video ghi lại hình ảnh trên xe ô tô biển kiểm soát 29B-1xxxxxx thu được qua camera lắp tại vị trí đầu xe ô tô tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông. Tại bản kết luận giám định số 1334/KLGĐ-KTHS ngày 03/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 02 tệp video của 01 USB gửi giám định.

* Xác định nguyên nhân tử vong của bị hại Bùi Thanh T

Tại Bản kết luận giám định số 3562/GĐPY-PC09 ngày 18/10/2022 đối với tử thi Bùi Thanh T của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

+ Các vết xây xước da, rách da, bầm tụ máu tại: đầu, mặt, lưng, tứ chi.

+ Vỡ xương hộp sọ.

+ Tụ máu màng mềm.

- Nguyên nhân chết: Vỡ xương hộp sọ, tụ máu màng mềm.

* Bồi thường dân sự; xử lý đồ vật, tài liệu, phương tiện, người liên quan

Sau khi xảy ra vụ tai nạn, Trần Phi Đ đã tích cực thăm hỏi và bồi thường cho gia đình anh Bùi Thanh T tổng số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng), đại diện bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Trần Phi Đ. Khi xe ô tô biển kiểm soát 29B-1xxxxxx do Trần Phi Đ va chạm với anh Bùi Thanh T làm xe ô tô bị hư hỏng nhẹ, tại bản Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 14/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thạch Thành kết luận, tổng giá trị thiệt hại của xe ô tô là 2.977.000đ (hai triệu chín trăm bảy mươi bảy nghìn đồng). Quá trình giải quyết vụ án, chủ sở hữu xe ô tô là ông Hoàng Cao Bảo không yêu cầu người có lỗi phải bồi thường thiệt hại, nên các cơ quan tố tụng không xem xét, giải quyết nội dung này.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thạch Thành đã tạm giữ chiếc xe ô tô biển kiểm soát 29B-1xxxxxx và một số giấy tờ liên quan do Trần Phi Đ điều khiển, tạm giữ chiếc xe đạp của anh Bùi Thanh T. Tra cứu phương tiện xác định, chiếc xe ô tô trên đều đủ điều kiện để lưu thông theo quy định. Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thạch Thành đã trả lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 29B-1xxxxxx và một số giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu là ông H; trả lại chiếc xe đạp cho người đại diện của bị hại Bùi Thanh T theo quy định.

Đối với anh Bùi Thanh T, quá trình điều tra xác định, trước thời điểm xảy ra vụ tai nạn, anh Bùi Thanh T đang đứng bên cạnh chiếc xe đạp ở lề đường bên phải, sau đó, xe ô tô do Trần Phi Đ điều khiển đi đến, va chạm với anh T, do đó anh Bùi Thanh T không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông nêu trên.

Đối với phong bì niêm phong, bên trong có 01 USB chứa 02 tệp video ghi lại hình ảnh trên xe ô tô biển kiểm soát 29B-1xxxxxx tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông và 01 giấy phép lái xe hạng D của Trần Phi Đ hiện được bảo quản trong phong bì dán kín và chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKSTT, ngày 12/06/2023, Viện Kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Trần Phi Đ về về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa Đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, xử phạt Trần Phi Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Phi Đ cùng gia đình đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình người bị hại xong. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, đại diện VKSND đề nghị không xem xét.

Đối với 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Phi Đ do Tổng cục giao thông đường bộ cấp ngày 24/6/2020. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo.

*Phần tranh tụng tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HĐXX:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Thành, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà, bị cáo Trần Phi Đ thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người đại diện hợp pháp của người bị hại, hiện trường nơi xảy ra tai nạn, kết luận giám định pháp y. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 10/10/2022, Trần Phi Đ điều khiển xe ô tô chở khách loại 29 chỗ, biển kiểm soát 29B-16695 lưu thông trên đường Hồ Chí Minh theo hướng Cẩm Thủy đi tỉnh Hòa Bình, khi đi đến Km512+150, thuộc địa phận thôn Q, xã T, huyện Thạch Thành Đ, do vừa lái xe vừa sử dụng điện thoại, không quan sát phần đường đi phía trước để điều khiển xe nên xe ô tô do Đ điều khiển đã va chạm với anh Bùi Thanh T đang đứng cạnh xe đạp ở phần đường đi phía trước, sát lề đường bên phải, gần hộ lan tôn đường theo hướng di chuyển của xe ô tô, làm anh T bị thương, sau đó tử vong vào hồi 16 giờ 00 phút cùng ngày tại nhà riêng, xe ô tô do Đ điều khiển bị hư hỏng nhẹ. Hành vi của Trần Phi Đ đã vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, điểm a khoản 7 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ và phạm vào tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

[3]. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của người dân khi tham gia giao thông.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Phi Đ đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành vi phạm tội của bản thân; sau khi phạm tội đã tích cực thăm hỏi, bồi thường xong phần dân sự cho gia đình bị hại và được đại diện gia đình bị hại viết đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có bố là người có công với cách mạng. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặc dù bị cáo phạm tội nghiêm trọng nhưng là lỗi vô ý, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ sức răn đe đối với bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Phi Đ đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 150.000.000 đồng. Đại diện của người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thạch Thành đã tạm giữ chiếc xe ô tô biển kiểm soát 29B-1xxxxxx và một số giấy tờ liên quan do Trần Phi Đ điều khiển, tạm giữ chiếc xe đạp của anh Bùi Thanh T. Tra cứu phương tiện xác định, chiếc xe ô tô trên đều đủ điều kiện để lưu thông theo quy định. Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thạch Thành đã trả lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 29B-1xxxxxx và một số giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu là ông Hoàng Cao Bảo; trả lại chiếc xe đạp cho người đại diện của bị hại Bùi Thanh T là đúng quy định của pháp luật.

[7] Đối với 01 giấy phép lái xe hạng D số 01xxxxxxxxxxx mang tên Trần Phi Đ do Tổng cục giao thông đường bộ cấp ngày 24/6/2020. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Phi Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Phi Đ 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Phi Đ cho Ủy ban nhân dân phường T, Quận B, Thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.

Trả lại cho bị cáo Trần Phi Đ 01 giấy phép lái xe hạng D số 01xxxxxxxxxxx mang tên Trần Phi Đ do Tổng cục giao thông đường bộ cấp ngày 24/6/2020 (Giấy phép lái xe hiện đang được lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 6, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo Trần Phi Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người đại diện hợp pháp của người bị hại. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ