- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Đ H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bàn Đ H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/HS-ST Ngày: 26-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ma Quốc Thể
2. Ông Nguyễn Sơn Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên tòa: Ông Ngô Xuân Tho - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2023/TLST-HS ngày 05/4/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2023/QĐXXST-HS ngày 12/4/2023 đối với bị cáo:
Bàn Đ H, sinh ngày 01/01/1968 tại huyện N, tỉnh T; Nơi cư trú: Thôn T, xã HH, huyện SD, tỉnh TQ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bàn Tài T và bà Bàn Thị M; Anh chị em ruột: Có 09 người, bị cáo là con thứ năm; Có vợ Lưu Thị Y, sinh năm 1964 và có 04 con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1994;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 02/01/2023, Bàn Đ H (là người sử dụng chất ma túy) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, biển số 22B2 - 0..... (xe của H) đi đến xã S, huyện SD tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại khu vực xã S, H gặp và hỏi mua được 01 gói ma túy được gói bằng túi ni lon màu trắng dán kín, bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng, với số tiền 300.000 đồng của một người đàn ông không xác định được tên tuổi, địa chỉ. H cất gói ma túy vừa mua được vào trong ví để trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi điều khiển xe đi về đến đoạn đường thuộc thôn B, xã S, huyện SD, H lấy một ít ma túy vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể nhưng không sử dụng hết, H gói số ma túy còn lại vào mảnh giấy bạc và cất cùng số ma túy trong túi nilon vào ví, tiếp tục điều khiển xe đi về đến đoạn đường ĐT185 thuộc thôn C, xã, huyện SD, thì bị Tổ công tác Công an xã T kiểm tra phát hiện và lập biên bắt bắt người phạm tội quả tang hồi 13 giờ 50 phút cùng ngày. H tự giác giao nộp 01 gói giấy bạc màu trắng và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất ma tuý.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể Bàn Đ H, kết quả: (+) dương tính với ma túy, loại Heroine.
Tại kết luận giám định số 124/KL-KTHS ngày 07/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật (thu giữ của Bàn Đ H) gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine; tổng khối lượng 0,129g (Không phẩy một hai chín gam).
Cáo trạng số: 50/CT-VKSSD ngày 29/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Bàn Đ H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố Bàn Đ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Bàn Đ H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị HĐXX xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bàn Đ H thừa nhận bản thân bị cáo là người nghiện ma túy từ năm 2021. Ngày 02/01/2023 bị cáo có hành vi tàng trữ 0,129g (Không phẩy một hai chín gam) Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về việc xem xét hành vi của Bàn Đức H.
Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Bàn Đ H được chứng minh bằng lời khai nhận tội của chính bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 50 phút ngày 02/01/2023, tại thôn C, xã T, huyện SD, tỉnh TQ, Bàn Đức H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,129g (Không phẩy một hai chín gam) Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bản thân Bàn Đ H có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã có hành vi tàng trữ phép 0,129g (Không phẩy một hai chín gam) Heroine mục đích để sử dụng với lỗi cố ý. Khối lượng ma túy Bàn Đ H tàng trữ trong phạm vi khối lượng ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (từ 0,1 gam đến 5 gam). Do đó, hành vi của Bàn Đ H đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự .
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố đối với bị cáo Bàn Đ H là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
. Về việc quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Hình phạt chính: Hội đồng xét xử thấy rằng, Bàn Đ H là người nghiện, nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp tạo điều kiện cho tệ nạn ma túy và các tệ nạn xã hội khác phát triển. Xét toàn diện căn cứ để quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có sơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, tuy hành vi của bị cáo là nghiêm trọng nhưng bị cáo có nhân thân tốt, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ (0,129g) gần tương đương mức thấp nhất được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (từ 0,1 gam đến 5 gam). Do vậy, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định (tù có thời hạn) với mức án bằng mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự cũng thỏa mãn mục đích của hình phạt mà vẫn thể hiện tính khoan hồng của Pháp luật xã hội chủ nghĩa.
- Hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định Bàn Đ H là đối tượng nghiện ma túy, nghề nghiệp là lao động tự do không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
. Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do Luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo bản án và các vấn đề khác.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy có tổng khối lượng 0,129g (Không phẩy một hai chín gam), sau khi đã lấy đi giám định số còn lại được niêm phong trong phong bì cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu đen xám, biển số đăng ký 22B2-0........., số khung 17.................., số máy E.........., xe cũ đã qua sử dụng xét thấy bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông theo H khai nhận là người bán ma túy cho H tại khu vực xã Sơ, huyện SD, quá trình điều tra không xác định được họ tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra, xử lý. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của H. Cơ quan CSĐT Công an huyện Sơn Dương đã chuyển hồ sơ, tài liệu đến Công an huyện Sơn Dương để xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 106, 135, 136, 331 và 333 Bộ Luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Tuyên bố: Bị cáo Bàn Đ H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bàn Đ H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 02/01/2023).
2. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Bàn Đ H; mặt trước phong bì ghi: “Tang vật vụ Bàn Đ H giám định ngày 02/01/2023”.
- Trả lại cho bị cáo Bàn Đ H 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu đen xám, biển số đăng ký 22B2-0......, số khung 17........., số máy E.............., xe cũ đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Sơn Dương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Dương lập ngày 06/4/2023).
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Bàn Đ H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Sơn Dương; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - TAND tỉnh Tuyên Quang; - CQCSĐT CA huyện Sơn Dương; - CQTHAHS CA huyện Sơn Dương; - Trại trạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang; - Chi cục THADS huyện SD; - Bộ phận HSNV CA huyện Sơn Dương; - Sở tư pháp; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Ma Quốc Thể - Nguyễn Sơn Hải | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thùy Trâm THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thùy Trâm |