vanban.org

Bản án 54/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 22/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt: Bị cáo Võ Văn V 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2022, ngày mà bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 54/2023/HS- ST
Ngày: 22/5/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông L Thanh Điền

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Dƣơng Tấn Đấu

2/ Ông Ngô Rạng Đông

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Đình Toàn– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Sơn Thái Phong- Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2022/TLST- HS, ngày 14 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2023/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Võ Văn V, sinh năm: 1997, Tại: TS-AG; Nơi cư trú: Ấp ĐS 2, thị trấn NS, huyện TS, tỉnh AG; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha không rõ nhân thân; Mẹ Võ Thị M, sinh năm 1978 (còn sống); Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, Tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2022

(Bị cáo có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Văn V bắt đầu sử dụng ma tuý từ tháng 7 năm 2022. Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 10/11/2022 V đi cùng với người tên H, L và 2 người khác (chưa rõ nhân thân) đến quán B 9E trên đường HV thuộc kp 1, phường DĐ, thành phố PQ, tỉnh KG để vui chơi, tại đây L đưa ma tuý cho cả nhóm cùng sử dụng. Đến khoảng 2 giờ ngày 11/11/2022 V cùng cả nhóm ra về, lúc này V thấy trên bàn nơi đang ngồi còn lại 4 phần viên nén ma tuý chưa sử dụng nên V mang về phòng số 12A nhà trọ VN nơi V thuê thuộc thuộc kp 1, phường DĐ, thành phố PQ, tỉnh KG cất giấu để sử dụng dần. Đến khoảng 10 giờ, ngày 17/11/2022, Công an thành phố PQ kiểm tra phòng trọ số 12A nhà trọ VN, phát hiện V đang tàng trữ trái phép chất ma tuý nên lập biên bản phạm tội quả tang.

Ngày 24/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố PQ khởi tố, tạm giam để điều tra đến nay.

* Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- 03 phần viên nén màu xám và một phần viên nén màu nâu, không rõ hình dạng, đã được niêm phong;

- 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax màu xanh, số IMEL 353905104662880, đã qua sử dụng.

* Tại bản kết luận giám định số: 1225/KL- KTHS, ngày 23/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh KG kết luận:

- 03 phần viên nén màu xám, không rõ hình dạng được niêm phong gửi giám định là chất ma tuý, loại MDMA. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2966gam.

- Một phần viên nén màu nâu, không rõ hình dạng được niêm phong gửi giám định là chất ma tuý, loại MDMA. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1802 gam.

MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục IB, STT 11, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 1225/KL- KTHS, ngày 23/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh KG.

Bản cáo trạng số 51/CT-VKSPQ ngày 11 tháng 4 năm 2023, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố PQ đã truy tố bị cáo Võ Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bày lời luận tội đối với bị cáo. Qua phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Võ Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Võ Văn V từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù giam.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 0,2611gam, mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 01 bịch nylon và 0,1551 gam, mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 01 bao gói đựng mẫu được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu vụ số 1125/2022;

+ Trả lại cho bị cáo 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax màu xanh, số IMEL 353905104662880, đã qua sử dụng.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án và lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố PQ, tỉnh KG, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố PQ, tỉnh KG đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội: Khoảng 10 giờ ngày 17/11/2022, tại phòng số 12A nhà trọ VN thuộc khu phố 1, phường Dương Đông, thành phố PQ, tỉnh KG, Công an thành phố PQ, bắt quả tang Võ Văn V đang tàng trữ trái phép 0,4768 gam ma tuý, loại MDMA để sử dụng cho bản thân.

V khai nhận số ma túy trên có được là do một người thanh niên tên L mang đến quán 9E trên đường HV, thuộc kp 1, phường DĐ, thành phố PQ để vui chơi, số ma tuy còn dư V mang về phòng cất giấu để sử dụng.

* Tại bản kết luận giám định số: 1225/KL- KTHS, ngày 23/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh KG kết luận:

- 03 phần viên nén màu xám, không rõ hình dạng được niêm phong gửi giám định là chất ma tuý, loại MDMA. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2966 gam (còn lại sau giám định là 0,2611gam);

- Một phần viên nén màu nâu, không rõ hình dạng được niêm phong gửi giám định là chất ma tuý, loại MDMA. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1802gam (còn lại sau giám định 0,1551 gam).

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Như vậy, cáo trạng mà viện kiểm sát nhân dân thành phố PQ truy tố bị cáo Võ Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức được tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, như trộm cắp, cướp giật...... Tuy nhiên, bị cáo biết và hiểu được điều đó nhưng để thõa mãn nhu cầu cá nhân mà bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và cũng tạo điều kiện cho bị cáo từ bỏ ma túy tái hòa nhập cộng đồng.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 0,4162 gam ma tuý, loại MDMA còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu vụ số 1125/2022;

+ Trả lại cho bị cáo 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax màu xanh, số IMEL 353905104662880, đã qua sử dụng.

Đối với người tên L, H và 02 người đàn ông đưa ma túy cho V sử dụng (chưa rõ nhân thân), Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rỏ, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Võ Văn V 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2022, ngày mà bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam.

2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ:

+ 0,4162 gam ma tuý, loại MDMA còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu vụ số 1125/2022;

+ Trả lại cho bị cáo 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax màu xanh, số IMEL 353905104662880, đã qua sử dụng.

(Tang vật trên đã được chuyển giao cho chi cục thi hành án Dân sự thành phố PQ theo quyết định chuyển giao vật chứng số 38/QĐ- VKSPQ- HS, ngày 11/4/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố PQ).

Đối với người tên L, H và 02 người đàn ông đưa ma túy cho V sử dụng (chưa rõ nhân thân), Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rỏ, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo V phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ