- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BAN AN NGO THI SA P- TRIEU HOANG S"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/HNGĐ-ST Ngày 25-7-2023 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC
TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Văn Châu
Ông Phạm Hữu Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Ngọc Hân – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 118/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Sà P, sinh năm 1995 (có mặt)
Đi ̣a chi: Số C T, khóm B phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.̉
2. Bị đơn: Ông Triệu Hoàng S, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Đi ̣a chỉ: Số F đường T, khóm B, phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 5 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Ngô Thị Sà P trình bày:
Bà Ngô Thị Sà P và ông Triệu Hoàng S tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2012, đến năm 2019 đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 64/2019, ngày 22/5/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân và gia đình, mâu thuẫn về tiền bạc, cách nuôi dạy con cái và nhiều vấn đề khác không giải quyết được. Trong thời kỳ hôn nhân bà P và ông S có ba người con chung là cháu Triệu Hoàng P1 (nam, sinh ngày 15/6/2012), cháu Triệu Như Ý (nữ, sinh ngày 10/9/2016) hiện đang sống chung với ông S và cháu Triệu Ngọc S1 (nữ, sinh ngày 01/12/2014) hiện đang sống chung với bà P, không có tạo lập được tài sản chung và cũng không có nợ chung.
Nay bà Ngô Thị Sà P yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Triệu Hoàng S.
Về con chung: Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên cháu Triệu Ngọc S1 (nữ, sinh ngày 01/12/2014) đến khi cháu Triệu Ngọc S1 đủ 18 tuổi. Bà P đồng ý giao hai người con chung tên cháu Triệu Hoàng P1 (nam, sinh ngày 15/6/2012), cháu Triệu Như Ý (nữ, sinh ngày 10/9/2016) đến khi cháu P1 và cháu Ý đủ 18 tuổi. Bà P và ông S1 không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Bị đơn ông Triệu Hoàng S từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay đều vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến gì:
- Ý kiến của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tại phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tại phiên tòa bị đơn ông Triệu Hoàng S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Triệu Hoàng S.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Sà P, về quan hệ hôn nhân của bà Ngô Thị Sà P và ông Triệu Hoàng S không vi phạm các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu bà P và ông S chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân giữa bà P và ông S bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn về tiền bạc, cách nuôi dạy con và nhiều vấn đề khác không thể hàn gắn được. Gia đình hai bên có hòa giải, hàn gắn tình cảm cho bà P và ông S không có kết quả. Tại tòa bà P xác định không còn tình cảm với ông S, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không còn khả năng hàn gắn, cuộc sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc và kiên quyết xin ly hôn với ông S. Nhận thấy, tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà P được ly hôn với ông S.
Về con chung: Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên cháu Triệu Ngọc S1 (nữ, sinh ngày 01/12/2014) đến khi cháu Triệu Ngọc S1 đủ 18 tuổi. Bà P đồng ý giao hai người con chung tên cháu Triệu Hoàng P1 (nam, sinh ngày 15/6/2012), cháu Triệu Như Ý (nữ, sinh ngày 10/9/2016) cho ông Triệu Hoàng S được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu P1 và cháu Ý đủ 18 tuổi. Bà P và ông S không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu Triệu Ngọc S1, cháu có nguyện vọng sống chung với bà P. Tại biên bản xác minh ngày 14 tháng 06 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng đối với bà Lý Thị Pho S2 là mẹ ruột của ông Triệu Hoàng S, bà Lý Thị Pho S2 xác định ông Triệu Hoàng S đang nuôi dưỡng hai người con chung là cháu P1 và cháu Ý. Xuất phát từ mọi lợi ích của cháu Triệu Ngọc S1, Triệu Hoàng P1, Triệu Như Ý tránh xáo trộn môi trường sống ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P, giao cháu Triệu Ngọc S1 cho bà P được trực tiếp nuôi dưỡng, giao hai cháu P1 và cháu Ý cho ông Triệu Hoàng S được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà P và ông S không yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ngô Thị Sà P tự khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Như đã phân tích nêu trên, đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở chấp nhận.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Ngô Thị Sà P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 5; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228; Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Ngô Thị Sà P và ông Triệu Hoàng S.
2. Về con chung:
Giao con chung tên cháu Triệu Ngọc S1 (nữ, sinh ngày 01/12/2014) cho bà Ngô Thị Sà P được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu S1 đủ 18 tuổi;
Giao hai cháu Triệu Hoàng P1 (nam, sinh ngày 15/06/2012), Triệu Như Ý (nữ, sinh ngày 10/9/2016) cho ông Triệu Hoàng S được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu P1 và cháu Ý đủ 18 tuổi.
Ông Triệu Hoàng S và bà Ngô Thị Sà P không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ông Triệu Hoàng S và bà Ngô Thị Sà P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ngô Thị Sà P tự khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Ngô Thị Sà P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008707 ngày 23/5/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; bà Ngô Thị Sà P đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Ông Triệu Hoàng S không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSNDTPST; - Chi cục THADSTPST; - Ủy ban nhân dân phường 5, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Bích Tuyền |