- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án dân sự thụ lý số 125/2023/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2023/QĐXXST-H…"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09-8-2023 Về việc: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy
2. Ông Nguyễn Quốc Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Nữ Thanh Hường là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Nhật - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 125/2023/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Hồ Mai A - Sinh năm: 1976
Nơi thường trú: Tổ 7, phường S, Quận LB, Thành phố Hà Nội.
Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố N, phường CN, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H - Sinh năm: 1978
Nơi thường trú: Tổ 7, phường S, Quận LB, Thành phố Hà Nội.
Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố N, phường CN, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Tôi và bà Nguyễn Thị Thu H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 54 ngày 16/5/2007. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau thời gian chung sống giữa hai chúng tôi nhận thấy có nhiều sự bất đồng trong tính cách, lối sống. Vợ chồng chúng tôi xảy ra mâu thuẫn và nhiều lần hàn gắn nhưng không được. Vì vậy, tôi yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh giải quyết cho tôi được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu H.
Về con chung: Sau khi kết hôn chúng tôi có 02 con chung là cháu Hồ Nhật L, sinh ngày 08/8/2007 và cháu Hồ Anh Q, sinh ngày 12/6/2011. Tôi xin được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày:
Tôi và ông Hồ Mai A tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 54 ngày 16/5/2007. Nguyên nhân mâu thuẫn trong cuộc hôn nhân này theo trình bày của ông Hồ Mai A là không đúng. Tôi không đồng ý ly hôn vì chưa giải quyết ổn thỏa về tài sản chung.
Về con chung: Sau khi kết hôn chúng tôi có 02 con chung là cháu Hồ Nhật L, sinh ngày 08/8/2007 và cháu Hồ Anh Q, sinh ngày 12/6/2011. Tôi đồng ý để ông Hồ Mai A được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Tôi cấp dưỡng nuôi con cho cháu Hồ Nhật L 1.000.000 đồng/tháng (Một triệu đồng một tháng) cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; tôi cấp dưỡng nuôi con cho cháu Hồ Anh Q 1.000.000 đồng/ tháng (Một triệu đồng một tháng) cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh kết luận:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Nguyên đơn được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Hồ Nhật L và cháu Hồ Anh Q. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
Ông Hồ Mai A có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh giải quyết ly hôn đối với bà Nguyễn Thị Thu H. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Mai A và bà Nguyễn Thị Thu H tự nguyện đi đến hôn nhân và được UBND phường Sài Đồng, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 54 ngày 16/5/2007. Do đó, hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hôn nhân giữa ông Hồ Mai A và bà Nguyễn Thị Thu H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ và phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Về con chung: Ông Hồ Mai A và bà Nguyễn Thị Thu H có 02 con chung là cháu Hồ Nhật L, sinh ngày 08/8/2007 và cháu Hồ Anh Q, sinh ngày 12/6/2011. Ông Hồ Mai A yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hồ Nhật L và cháu Hồ Anh Q. Bà Nguyễn Thị Thu H đồng ý giao các con chung cho ông Hồ Mai A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Hồ Mai A có đủ điều kiện để yêu thương con, chăm lo cho việc sinh hoạt, học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con. Do đó, việc giao cho ông Hồ Mai A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hồ Nhật L và cháu Hồ Anh Q sau khi ly hôn là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thu H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cho cháu Hồ Nhật L 1.000.000 đồng/tháng (Một triệu đồng một tháng) và cấp dưỡng nuôi con cho cháu Hồ Anh Q 1.000.000 đồng/ tháng (Một triệu đồng một tháng) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi nên được ghi nhận.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Nguyên đơn chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ:
- Các Điều 28, 228, 238 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Mai A được ly hôn bà Nguyễn Thị Thu H.
2. Về con chung: Ông Hồ Mai A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung là cháu Hồ Nhật L, sinh ngày 08/8/2007 và cháu Hồ Anh Q, sinh ngày 12/6/2011.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thu H cấp dưỡng cho cháu Hồ Nhật L 1.000.000 đồng/tháng (Một triệu đồng một tháng) từ tháng 9 năm 2023 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và cấp dưỡng cho cháu Hồ Anh Q 1.000.000 đồng/tháng (Một triệu đồng một tháng) từ tháng 9 năm 2023 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên không xét.
4. Về án phí: Ông Hồ Mai A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về “Ly hôn” nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2022/0000667 ngày 14/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh.
5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
* Quy định chung:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa; - VKSND Tp. Cam Ranh; - Chi cục THADS Tp. Cam Ranh; - UBND phường Sài Đồng, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Hoàng |