- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Mỹ Ph yêu cầu ly hôn với anh Bùi Vũ L, con chung không có, tài sản chung và nợ chung không có"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ Ph.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/HNGĐ-ST Ngày 10- 02 – 2023 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Phi Hùng
2. Bà Nguyễn Thị Bích Phượng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Thy- Thư ký Toà án nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong– Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 350/2022/TLST-DS ngày 21/10/2022 về việc tranh chấp“Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HN, ngày 03 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Mỹ Ph, sinh năm 2003.
Tạm trú: tổ 05, ấp HA, xã Hoà L, huyện PT, An Giang.
- Bị đơn: anh Bùi Vũ L, sinh năm 1992.
Nơi cư trú: tổ 03, ấp HL, xã Hoà L, huyện PT, An Giang.
(Chị Ph yêu cầu vắng mặt, anh L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện:
Vào ngày 28/4al/2022, thông qua mai mối, chị và anh Bùi Vũ L đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã HL (Giấy chứng nhận kết hôn số 81/2022, ngày 03/6/2022). Nguyên nhân mâu thuẫn: sau khi đám cưới, vợ chồng cùng gia đình chồng lên Đồng Nai làm thuê, bà nội ở quê bệnh nên xin về thăm nội, sau khi về quê được vài ngày thì anh L điện thoại nói ở dưới quê luôn, mẹ của anh L có điện thoại nói chuyện với mẹ chị về việc không cho chị lên Đồng Nai nữa, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh L. Về con chung, về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ 02 lần để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và 02 lần để xét xử, nhưng bị đơn đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến.
Tòa án tiến hành xác minh được bà Bùi Thị S (cô ruột của anh L) cho biết vợ chồng anh L, chị Ph cưới nhau được khoảng 02 tháng thì không còn chung sống nữa, Ph về quê sống với cha mẹ ruột, L thì cùng gia đình đi làm ở xa, mâu thuẫn gia đình thế nào bà không biết, bà có nhận dùm các thông báo của Toà và có thông tin cho L biết, việc ly hôn của L do L tự quyết định, bà không có ý kiến.
Tòa án tiến hành xác minh được bà Trương Thị Ph (vợ sau của ba chị Ph) cho biết: Ph và L là vợ chồng do mai mối, sống chung với nhau được 02 tháng thì ly thân đến nay, không rõ nguyên nhân nhưng mẹ của L có điện thoại nói chuyện rõ ràng với bà về việc không cho Ph về sống chung với gia đình L nữa.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT
Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Qua đó, cho thấy bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ph được ly hôn với anh L. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết do đó không đặt ra xem xét. Chị Ph phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện bị đơn về việc ly hôn và bị đơn có nơi cư trú tại xã HL, huyện PT, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình về việc tranh chấp “Ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên toà: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung:
Về yêu cầu ly hôn: chị Nguyễn Thị Mỹ Ph và anh Bùi Vũ L là vợ chồng chung sống được 02 tháng, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và cuộc sống hôn nhân vợ chồng nếu muốn có được hạnh phúc dài lâu, đạt được mục đích thì phải bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, phải biết thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau, nhưng anh chị không làm được điều đó, Tòa án đã triệu tập anh L để tham gia hòa giải hai lần và trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh đều không đến, đã ly thân không còn chung sống, chị Ph cương quyết yêu cầu ly hôn, nên chấp nhận cho chị Ph được ly hôn với anh L là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con:
Chị Ph xác định không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Ghi nhận chị Ph xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ph phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh L không phải chịu án phí hôn nhân gia đình.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 238, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ Ph.
1. Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Mỹ Ph được ly hôn với anh Bùi Vũ L.
Giấy chứng nhận kết hôn số 81/2022, ngày 03/6/2022 do Uỷ ban nhân dân xã Hoà Lạc, huyện PT cấp cho anh chị không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm Bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Ghi nhận chị Nguyễn Thị Mỹ Ph xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Mỹ Ph phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu tiền số 0005637 ngày 19/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện PT, tỉnh An Giang. Anh Bùi Vũ L không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.