- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu C khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/DS-ST Ngày: 12-7-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Ẩn
2. Bà Nguyễn Thị Mến
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Yến – Thư ký Tòa án nhân nhân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Trong ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 02 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2022/QĐXX-ST ngày 05 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng T
Trụ sở: số S, đường N, phường V, quận K, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của ngân hàng: Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1993 “có mặt”
(Văn bản ủy quyền ngày 13/9/2022)
Địa chỉ:số B, đường U tháng P, phường L, thành phố A, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: Anh Lý Hữu C, sinh năm 1992“vắng mặt”.
Địa chỉ cư trú: ấp K, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 13/9/2022 và bản tự khai cùng ngày nguyên đơn Ngân hàng T trình bày: Vào ngày 20/01/2020 Ngân hàng T có ký với anh Ly Hữu C hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 1413918 (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này gọi chung là hợp đồng). Căn cứ thu nhập của anh Lý Hữu C, Ngân hàng đã đồng ý cấp 01 thẻ tin dụng với hạn mức sử dụng 20.000.000đồng, số thẻ 472074-3279, lãi suất tại thời điểm mở thẻ tín dụng là 2,6%/tháng (lãi suất thay đổi theo từng thời kỳ của Ngân hàng), khi phát sinh quá hạn áp dụng lãi 150% lãi suất ghi trên hợp đồng tín dụng, tương dương lãi quá hạn là 3,9%/tháng, mục đích tiêu dùng cá nhân.
Quá trình giao dịch được thể hiện chi tiết trên bản sao kê quá hạn thẻ, thứ tự thanh toán thẻ tín dụng căn cứ theo Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Quá trình thực hiện hợp đồng anh C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 22/8/2021, ngân hàng đã tạm khóa quyền sử dụng thể và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sáng nợ quá hạn. Tính đến ngày 13/9/2022 anh C còn nợ 18.598.723đồng và lãi quá hạn 9.547.986đồng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh C trả toàn bộ số nợ trên và lãi phát sinh theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký và anh C chịu toàn bộ án phí.
Bị đơn anh Lý Hữu C được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải hợp lệ nhưng ông C không trả lời ý kiến bằng văn bản về nội dung khởi kiện của nguyên đơn, không đến tham gia phiên họp và hòa giải cho nên không tiến hành phiên họp và hòa giải được giữa các đương sự. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập các đương sự đến tham gia phiên tòa sơ thẩm nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ yêu C khởi kiện, bị đơn vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung:
Về thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng T là chủ thể có đăng ký kinh doanh ký kết hợp đồng tín dụng với bị đơn anh Lý Hữu C, có địa chỉ ấp M, xã K, huyện B, tỉnh Vĩnh Long là cá nhân không có đăng ký kinh doanh nên vụ án là tranh chấp hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về người tham gia tố tụng: Bị đơn anh Lý Hữu C được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng anh C vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng T yêu C bị đơn anh C có nghĩa vụ trả cho ngân hàng vốn lãi tính đến ngày 12/7/2023 vốn 18.598.723đồng và lãi quá hạn 16.849.742đồng. Tổng cộng vốn lãi 35.448.465đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 20/01/2020 là có căn cứ. Bởi, sự việc vay vốn được thể hiện bằng hợp đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1413918 ngày 20/01/2020 giữa anh Lý Hữu C và Ngân hàng. Thực hiện hợp đồng anh C vi phạm hợp đồng. Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng thì anh C không có ý kiến gì về số vốn còn nợ cũng như lãi mà Ngân hàng yêu C. Do đó, số nợ vốn, lãi Ngân hàng khởi kiện là đúng nên anh C phải có nghĩa vụ trả nợ theo yêu C của Ngân hàng là phù hợp Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
Về án phí dân sự sơ thẩm buộc anh Lý Hữu C nộp 1.772.423 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 khoản 26; điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự 2015, Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu C khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc anh Lý Hữu C có nghĩa vụ trả Ngân hàng T số tiền nợ gốc 18.598.723đồng và lãi quá hạn 16.849.742đồng. Tổng cộng vốn, lãi 35.448.465đồng (ba mươi lăm triệu bốn trăm bốn mươi tám ngàn bốn trăm sáu mươi lăm đồng) và phải trả lãi phát sinh tiếp từ ngày 13/7/2023 theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số1413918, ngày 20/01/2020 cho đến khi trả xong nợ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc anh Lý Hữu C nộp 1.772.423 đồng (một triệu bảy trăm bảy mươi hai ngàn bốn trăm hai mươi ba đồng).
Hoàn trả Ngân hàng T số tiền tạm ứng án phí 703.000đồng (bảy trăm lẻ ba ngàn đồng) theo biên lai thu số 003913 ngày 14 tháng 2 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu C thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long; - VKS nhân dân huyện T; - Đương sự; - Chi cục Thi hành án huyện Trà Ôn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Hoàng Phong |