vanban.org

Bản án 54/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 31/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tạm giam bị cáo: Lê Duy Hải, sinh năm 1970

Nơi cư trú: thôn Minh Khai, xã Yên Thạch, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc. Nghề nghiệp: Lao động tự do Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tạm giam bị cáo: Lê Duy Hải, sinh năm 1970
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG LÔ
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2022/HSST
Ngày 25/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Tiến Vinh.

Ông Nguyễn Tiến Dũng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nghiêm Xuân Huy - Thẩm tra viên tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Bà

Hoàng Thị Thanh Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2022 tại hội trường nhà Văn hóa tổ dân phố Lạc

Kiều, thị trấn Tam Sơn, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2022/HSST, ngày 08/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2022/QĐXXST-HS, ngày 11/11/2022 đối với bị cáo:

Lê Duy H, sinh năm 1970; Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: thôn Minh Khai,

xã Yên Thạch, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Duy Đ, sinh năm 1945 và con bà Đỗ Thị Đ, sinh năm 1950; vợ: Hà Thị L, sinh năm 1979 (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2001; Tiền án: 01 tiền án, tại Bản án số 12/2020/HS-ST ngày 17/01/2020, TAND TP.Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hải chấp hành xong án phạt tù ngày 24/6/2021.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 71 ngày 21/12/1995, TAND huyện Lạng Giang,

tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản XHCN, chấp hành xong án phạt tù ngày 11/7/1996. Tại Quyết định số 2320/QĐ-UBND ngày 06/6/2011 của UBND quận Long Biên, TP. Hà Nội, áp dụng 24 tháng đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục xã hội số III Hà Nội. Ngày 31/3/2013, Hải chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2022 đến nay (có mặt tại phiên tòa).

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thái Bình S, sinh năm 1987

Trú tại: thôn Đ xã Đ, huyện Sông Lô,Vĩnh Phúc (vắng mặt)

Ông Lê Duy Đ, sinh năm 1945.

Trú tại: thôn M, xã Y, huyện Sông Lô,Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 08 tháng 8 năm 2022, Lê Duy H, ở thôn, xã y, huyện Sông Lô đang ở nhà một mình thì có Nguyễn Thái Bình S, ở thôn Đ, xã Đ, huyện Sông Lô đến hỏi mua 200.000đ tiền ma túy. H đồng ý bán cho S tại vị trí cửa cổng nhà H. Sau khi nhận tiền từ S, H đưa cho Sơn 01 gói nhỏ ma túy được gói ngoài bằng giấy bạc bao thuốc lá màu vàng. Sơn cầm gói ma túy đi đến khu vực bìa rừng gần Hồ Ngọc Đá thuộc thôn Tt, xã Y để sử dụng. Sơn vừa sử dụng xong thì bị lực lượng công an huyện Sông Lô phát hiện, thu giữ gần vị trí của S 01 mẩu giấy bạc đã bị cháy xém một góc, S khai nhận là giấy bạc gói ma túy S vừa sử dụng xong, mua được của Lê Duy H với giá 200.000đ, được niêm phong trong phong bì kí hiệu A1 và lập biên bản sự việc theo quy định.

Căn cứ vào các tài liệu đã thu thập được, ngày 09 tháng 8 năm 2022, Cơ

quan CSĐT công an huyện Sông Lô ra Lệnh khám xét khẩn cấp và tiến hành khám xét người, nơi ở, phương tiện của Lê Duy H. Quá trình khám xét, thu giữ được gồm: 02 gói nhỏ, một gói được gói ngoài bằng giấy bạc bao thuốc lá màu vàng, một gói được gói bằng giấy bạc, bên trong các gói đều chứa chất bột màu trắng tại vị trí giỏ hàng phía trước xe môtô của Hải, được niêm phong trong phong bì kí hiệu A2. 04 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc, bên trong các gói đều chứa chất cục, bột màu trắng tại tủ kê để trước lối ra vào nhà H, được niêm phong trong phong bì kí hiệu A3. 02 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc bên trong có chứa chất bột màu trắng tại ống nhựa màu cam có nắp màu vàng để trên kệ tủ kê ở lối ra vào nhà H, được niêm phong trong phong bì kí hiệu A4.

Ngày 09/8/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Lô quyết định trưng

cầu giám định đối với mẫu vật chứng thu giữ của Lê Duy H. Ngày 13/8/2022 Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: số 2463/KLGĐ kết luận:

- Chất màu đen bám dính trên bề mặt 01 gói nhỏ bằng giấy của mẫu kí hiệu

A1 gửi giám định là ma túy, Heroine.

- Chất cục, bột màu trắng của mẫu kí hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có

khối lượng 0,1997, không kể bao bì, loại Heroine.

- Chất cục, bột màu trắng của mẫu kí hiệu A3 gửi giám định là ma túy, có

khối lượng 0,6516, không kể bao bì, loại Heroine.

- Chất cục, bột màu trắng của mẫu kí hiệu A4 gửi giám định là ma túy, có

khối lượng 5,6900g, không kể bao bì, loại Heroine. Tổng khối lượng A2+A3+A4 = 6,5413g ma túy, loại Heroine.

Đối với số ma túy thu giữ được, H tự khai nhận cất giấu để sử dụng cho bản

thân và bán cho các đối tượng nghiện ma túy để kiếm lời. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định H có mục đích bán trái phép 6,5413g ma túy, loại Heroine.

Về nguồn gốc số ma túy, H mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi,

địa chỉ cụ thể tại khu vực đường tàu TP.Vĩnh Yên. Cơ quan CSĐT công an huyện Sông Lô không xác định được con người cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Nguyễn Thái Bình S tự khai nhận là đối tượng nghiện ma túy.

Ngày 08/8/2022, sau khi mua được ma túy của H, S đã sử dụng hết, không xác định được khối lượng ma túy nên Cơ quan CSĐT công an huyện Sông Lô không có căn cứ xử lý hình sự. Ngày 25/10/2022, Cơ quan CSĐT công an huyện Sông Lô đã ra Quyết định số 21/QĐ-XPHC, phạt tiền 1.500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đồng thời có văn bản thông báo, trao đổi với UBND xã Đồng Quế, huyện Sông Lô để xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính phù hợp đối với S.

Tại bản cáo trạng số: 55/CT-VKSSL ngày 08/11/2022 Viện kiểm sát nhân

dân huyện Sông Lô đã truy tố Lê Duy H về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Duy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản

1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Duy H từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng

tù, Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện

Sông Lô đã truy tố và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ăn năn hối hận, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ

mức hình phạt cho bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an

huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Duy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội

của mình như sau: Khoảng 12 giờ ngày 08/8/2022, tại trước cổng nhà ở của mình thuộc thôn M, xã Y, huyện Sông Lô bị cáo có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine cho Nguyễn Thái Bình S ở thôn Đ, xã Đồng Quế với giá 200.000đ, ngoài ra bị cáo còn có hành vi tàng trữ 6,5413gam ma túy Heroine tại nơi ở mục đích bán cho các con nghiện, khi bị khám xét khẩn cấp thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Lê Duy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù. Do đó bản cáo trạng số: 55/CT-VKSSL ngày 08/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Lê Duy H về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bị oan.

Hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây mất

trật tự, an ninh ở địa phương nhất là trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước ta có những chủ trương, biện pháp đấu tranh không khoan nhượng đối với các loại tội phạm về ma tuý nhưng trên địa bàn xã Yên Thạch nói riêng và huyện Sông Lô nói chung tội phạm về ma tuý diễn biến ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng, nó cũng là mầm mống nảy sinh những tội phạm khác như: Trộm cắp, lừa đảo, cướp giật tài sản......Do vậy cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe những kẻ khác góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu. Tại ản án số 71 ngày 21/12/1995, TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản XHCN. Tại Quyết định số 2320/QĐ-UBND ngày 06/6/2011 của UBND quận Long Biên, TP. Hà Nội, áp dụng 24 tháng đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục xã hội số III Hà Nội. H chấp hành xong và Tại bản án số: 12/2020/HS-ST ngày 17/01/2020, TAND TP.Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại lao vào con đường phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật, nên hành vi của H xác định là tái phạm bị áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và có bố, mẹ đẻ là người có công lao tham gia kháng chiến chống Mỹ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hang nhất và hạng ba, hiện nay bị cáo đang thờ cúng liệt sỹ được chính quyền địa phương xác nhận. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, giúp bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật. Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt tù cách ly bị cáo một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, luôn có ý thức chấp hành pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa bị cáo xác

nhận là người nghiện ma túy, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản riêng. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố

tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: A1= 01 gói bằng giấy (dạng giấy bạc); A2=0,1495g; A3=0,5650g; A4=5,5620g mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng bao gói giấy “MẪU TRẢ”. 01 khẩu trang y tế, 02 ống nhựa thu giữ của H, 01 bật lửa gas bằng nhựa thu giữ của Sơn dùng để sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 200.000đ là tiền Hải bán ma túy cho S

Đối với 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO có vỏ màu xanh; 01 ví giả da màu nâu

và 550.000đ thu giữ của H, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho H nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave sơn màu đen trắng, BKS

88C1-274.61, quá trình điều tra xác định được là tài sản hợp pháp của ông Lê Duy Đ (bố đẻ của H). Ông Đ không biết H sử dụng chiếc xe trên đi bán trái phép chất ma túy nên trả lại cho ông Đ quản lý sử dụng.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2/ Điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm h khoản

1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Phạt: Lê Duy H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ,

tạm giam ngày 09 tháng 8 năm 2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo Hải để đảm bảo thi hành án.

3/ Xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ

luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: A1 = 01 gói nhỏ bằng giấy bạc; A2 = 0,1495gam; A3 = 0,5650 gam; A45,5620gam cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng bao gói giấy “MẪU TRẢ”. Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa ga màu trắng, 01 khẩu trang y tế, 01 ống nhựa tối màu có nắp màu trắng, 01 ống nhựa màu cam có nắp màu vàng.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ Sơn mua ma túy của H.

Trả lại cho Lê Duy H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu

xanh, có số IMEI 861063055230052, 01 ví giả da màu nâu và 550.000đ, nhưng tạm giữ đảm bảo Thi hành án.

Trả lại cho ông Lê Duy Đ 01 xe máy nhãn hiệu HONDA, gắn BKS: 88C1-

27461 (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/11/2022 của cơ quan Công an huyện Sông Lô với Chi cục thi hành án huyện Sông Lô).

4/ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết

326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Duy H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày

kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận hoặc niêm yết bản án./. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -VKSND huyện Sông Lô;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà -VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; -TAND tỉnh Vĩnh Phúc; -Chi cục THA dân sự huyện Sông Lô; -Công an huyện Sông Lô; -UBND xã Y;

- Trại giam CA tỉnh;

Nguyễn Kiên Thành

- Bị cáo; Người có QLNV liên quan; -Lưu hs; Vp. TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN SÔNG LÔ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH VĨNH PHÚC

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào 09 hồi giờ 10 phút ngày 25 tháng 11 năm 2022.

Tại: Phòng làm việc Nhà văn hóa tổ dân phố Lạc Kiều, huyện Sông Lô,

Vĩnh Phúc.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Tiến Vinh và ông Nguyễn Tiến Dũng.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2022/HSST ngày 08

tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Duy Hải, sinh năm 1970

Nơi cư trú: thôn Minh Khai, xã Yên Thạch, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên, kết quả tranh

tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1/ Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trường hợp trả hồ sơ để điều

tra bổ sung. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

2/ Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm

sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

3/ Về tội danh và Điều luật áp dụng: có đầy đủ căn cứ kết tội bị cáo Lê Duy

Hải phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

4/ Về hình phạt: Phạt: Lê Duy Hải 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ

ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09 tháng 8 năm 2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo Hải để đảm bảo thi hành án. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

5/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật

tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: A1 = 01 gói nhỏ bằng giấy bạc; A2 = 0,1495gam; A3 = 0,5650 gam; A45,5620gam cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng bao gói giấy “MẪU TRẢ”. Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa ga màu trắng, 01 khẩu trang y tế, 01 ống nhựa tối màu có nắp màu trắng, 01 ống nhựa màu cam có nắp màu vàng.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ Sơn mua ma túy của Hải.

Trả lại cho Lê Duy Hải 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ

màu xanh, có số IMEI 861063055230052, 01 ví giả da màu nâu và 550.000đ, nhưng tạm giữ đảm bảo Thi hành án.

Trả lại cho ông Lê Duy Đường 01 xe máy nhãn hiệu HONDA, gắn BKS:

88C1-27461 (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/11/2022 của cơ quan Công an huyện Sông Lô với Chi cục thi hành án huyện Sông Lô).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết

326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Duy Hải phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

6/ Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện

Sông Lô trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

7/ Quyền kháng cáo: Bị cáo Hải có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15

ngày kể từ ngày tuyên án và người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 25 phút ngày 25 tháng 11 năm 2022.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử

cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Tiến Vinh Nguyễn Tiến Dũng

Nguyễn Kiên Thành

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN SÔNG LÔ

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

TỈNH VĨNH PHÚC

Sông Lô ngày 25 tháng 11 năm 2022 Số: ...../2022/HSST-QĐTG

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Tiến Vinh và ông Nguyễn Tiến Dũng.

Căn cứ vào các Điều 109, 113, 119 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 25/11/2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm.

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc Thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tạm giam bị cáo: Lê Duy Hải, sinh năm 1970

Nơi cư trú: thôn Minh Khai, xã Yên Thạch, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc.

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép

chất ma tuý”. Theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09 tháng 8 năm 2022.

Thời hạn tạm giam là: 45 (Bốn mươi năm) ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày

25/11/2022.

2/ Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc có trách nhiệm Thi hành quyết định

này.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ