vanban.org

Bản án 54/2022/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Phú Yên Tuyên án 16/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị của Việ n kiể m sá t nhân dân thành phố TH, tỉnh Phú Yên – Sử a bản án sơ thẩm về quyế t đị nh xử lý vật chứng.

Tuyên bố: Bị cáo Phan Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt: Bị cáo Phan Chí T – 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19 tháng 8 năm 2021 đến ngày 21 tháng 01 năm 2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Chí T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Việ n kiể m sá t nhân dân thành phố TH, tỉnh Phú Yên – Sử a bản án sơ thẩm về quyế t đị nh xử lý vật chứng.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2022/HS-PT
Ngày: 16/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;

Các Thẩm phán: Ông Võ Nguyên Tùng và ông Trần Minh Quang;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Tám – Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 34/2022/TLPT-HS ngày 23 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo do có kháng nghị của VKSND thành phố TH, tỉnh Phú Yên đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2022/HS-ST ngày 12/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố TH, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo bị kháng nghị:

Phan Chí T (tên gọi khác: Đỏm em) – sinh năm 1988; Nơi cư trú: khu phố NT 1, phường 9, thành phố TH, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hoá (học vấn) 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn H, sinh năm 1962 và bà Phan Thị T, sinh năm 1960; Vợ: Đặng Thị Ngọc T – sinh năm 1988, có 02 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014). Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2021 đến ngày 21/01/2022. Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Đức C, sinh năm: 1979; Nơi cư trú: thôn Thạch B Đ, xã C S, huyện P C, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 19 tháng 8 năm 2021, tại ngã tư đường ADV – Lê Văn H thuộc khu phố LT2, phường 9, thành phố TH, Tổ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự và phòng chống Covid19 Công an tỉnh Phú Yên phát hiện Phan Chí T điều khiển xe mô tô có dấu hiệu vi phạm chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ nên dừng xe để kiểm tra thì phát hiện trên tay trái T đang cầm một chai nhựa hình tròn loại tuýp sủi, bên trong chai có chứa 02 viên sủi và 02 bịch ny long có chứa tinh thể màu trắng là ma túy. T khai nhận tinh thể màu trắng trong 02 bịch nylon là ma túy đá, T mua của một người tên Th, có tài khoản Zalo là Doãn Chí T nhưng không rõ lai lịch, mục đích T mua về để sử dụng. Tổ tuần tra bàn giao T cho Cơ quan điều tra - Công an thành phố TH tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại kết luận giám định số 245/GĐ-PC09 ngày 26/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên, xác định: Tinh thể màu trắng trong 02 bì nilon trong suốt có tổng khối lượng 4,771g là ma túy, loại Methamphetamine.

Vật chứng vụ án:

- 4,677g Methamphetamine (còn lại sau giám định); 01 điện thoại di động Iphone màu đen; 01 vỏ chai nhựa hình trụ có nắp hiệu REDDBUM;02 viên sủi; xe mô tô biển số 77N3-5841; số tiền 155.000đồng

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2022/HS-ST ngày 12/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố TH, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Phan Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt: Bị cáo Phan Chí T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19 tháng 8 năm 2021 đến ngày 21 tháng 01 năm 2022;

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 4,677g Methamphetamine (còn lại sau giám định) được đựng trong bì dán niêm phong; 01 vỏ chai nhựa hình trụ có nắp đậy bên ngoài có ghi chữ REDDBUM; 02 viên sủi màu vàng.

- Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại cảm ứng màu đen mặt sau có chữ Iphone đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Phan Chí T số tiền 155.000đồng.

- Trả lại cho ông Nguyễn Đức C 01 xe mô tô hiệu SIRIUS biển số 77N3-5841 màu xám bạc. (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17 tháng 02 năm 2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố TH và Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/4/2022 Việ n kiể m sá t nhân dân thành phố TH ban hà nh quyế t đị nh kháng nghị số 01/QĐ-VKS; theo hướng sửa bản án sơ thẩm, tiếp tục giao chiếc xe mô tô biển số 77N3-5841 cho Công an thành phố TH tạm giữ để xử lý theo thẩm quyền.

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Chí T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức C vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố nội dung kháng nghị của VKSND thành phố TH; lời khai của bị cáo và lờ i khai củ a người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ á n.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hộ i đồ ng xét xử c ăn cứ Điể m d, Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấ p nhậ n kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH; sử a bả n á n sơ thẩ m về quyế t đị nh xử lý vậ t chứ ng, tiếp tục giao chiếc xe mô tô biển số 77N3-5841 cho Công an thành phố TH tạm giữ để xử lý theo thẩm quyền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Xét sự vắng mặt của bị cáo Phan Chí T, và ông Nguyễn Đức C tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tiến hành xét xử vụ án theo Điểm c, Khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lúc 15 giờ 20 phút ngày 19/8/2021, tại khu phố LT2, Phường 9, thành phố TH, tỉnh Phú Yên . Phan Chí T đã có hành vi tàng trữ trái phép 04,771 gam ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang; nên cấp sơ thẩm đã truy t ố, xét xử Phan Chí T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c, Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Xét kháng nghị của Việ n kiể m sá t nhân dân thành phố TH, tỉnh Phú Yên, Hội đồng xét xử thấy: Theo bản án hình sự sơ thẩm số 79/2017/HSST ngày 10/8/2017 của TAND thành phố QN thì: Ngày 16/3/2017 tại TP. QN, Lâm Phi C, Trương Văn T và Nguyễn Phục P đã lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 77N3-5841 của ông Nguyễn Đức C khi chị D (con gái ông C đang quản lý, sử dụng) rồi đem bán cho một đối tượng tên Mèm (không rõ lai lịch) ở TP. Tuy Hòa. Do không xác định được đối tượng mua xe, xe không thu hồi được nên các bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho ông C. Gia đình bị cáo CC đã tự nguyện thỏa thuận, bồi thường cho ông C, chị D giá trị chiếc xe là 10.000.000đ và ông C, chị D không có yêu cầu gì thêm nên TAND thành phố QN không xem xét và bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Trong vụ án này, Phan Chí T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chiếc xe mô tô biển số 77N3-5841 không phải là phương tiện phạm tội trong vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo khai nhận (BL 78-79): xe mô tô biển số 77N3-5841 không phải bị cáo đăng ký chủ sở hữu. Bị cáo có quen biết với một thanh niên qua mạng xã hội tên thường gọi là Nam lé (không biết rõ lai lịch, địa chỉ) và Nam lé có đưa cho bị cáo xe mô tô biển số 77N3-5841 giữ giùm nhưng không thấy liên hệ để nhận lại xe. Do đó, bị cáo quản lý, sử dụng xe này từ năm 2017 đến ngày 19/8/2021 cũng không có giấy tờ gì. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm chưa thông báo công khai để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp để xem xét, quyết định việc xử lý chiếc xe theo đúng quy định của pháp luật. Lâm Phi CC và bà Nguyễn Thị T là người đã bồi thường giá trị chiếc xe cho ông C nhưng tại biên bản xác minh ngày 16/12/2021, công an phường Quang Trung, TP. QN, tỉnh Bình Định cung cấp Lâm Phi CC và gia đình đã bán nhà đi khỏi địa phương, không rõ đang ở đâu nên việc lấy lời khai của CC và bà Thúy không thực hiện được. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đối với chiếc xe mô tô biển số 77N3-5841 nên cần chấ p nhậ n ý kiế n củ a Kiể m sát viên, sử a bả n á n sơ thẩ m về quyế t đị nh xử lý vậ t chứ ng, tiếp tục giao chiếc xe mô tô biển số 77N3-5841 cho Công an thành phố TH tạm giữ để xử lý theo thẩm quyền.

Bị cáo Phan Chí T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điể m d, Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng nghị của Việ n kiể m sá t nhân dân thành phố TH, tỉnh Phú Yên – Sử a bản án sơ thẩm về quyế t đị nh xử lý vật chứng.

Tuyên bố: Bị cáo Phan Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng Điểm c, Khoản 1 Điều 249; Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Phạt: Bị cáo Phan Chí T – 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19 tháng 8 năm 2021 đến ngày 21 tháng 01 năm 2022.

2. Về xử lý vật chứng:

Tiếp tục giao chiếc xe mô tô biển số 77N3-5841 cho Công an thành phố TH tạm giữ để xử lý theo thẩm quyền (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/02/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố TH và chi cục thi hành án dân sự thành phố TH).

3. Bị cáo Phan Chí T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ