- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Tòng Văn Dương phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2022/HS-ST Ngày: 24-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Thành Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thanh Sơn
2. Ông Nguyễn Văn Đang
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thu Linh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Hồng Chiên - Kiểm sát viên.
- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:
1. Ông Phạm Việt Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình
2. Ông Nguyễn Dương Thành – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp
Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 49/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2022 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Tòng Văn D, sinh ngày 19/5/1985, tại huyện ĐB, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: bản NP, xã MN, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Tòng Văn Th và bà Vì Thị Th; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 01/02/2013, bị Công an phường Thanh Bình, thành phố Điện Biên Phủ xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, chấp hành xong ngày 06/02/2013 (đã đủ điều kiện được coi như chưa bị xử phạt hành chính); bị tạm giữ từ ngày 09/5/2022 đến ngày 14/5/2022 chuyển tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình đến nay (có mặt).
- Người làm chứng: anh Lê Văn T (vắng mặt).
- Người chứng kiến: anh Nguyễn Khánh N (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào 13 giờ 30 phút ngày 09/5/2022, tại vỉa hè đường Trần Phú phía bên phải hướng từ đường Trần Phú ra quốc lộ 1A, thuộc tổ 9, phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, bị cáo Tòng Văn D đang mang theo một gói Heroine dạng bột cục màu trắng được gói bằng giấy bạc màu vàng, bỏ trong bao thuốc lá Thăng Long màu vàng để ở túi quần bên trái đang mặc thì bị tổ công tác của Công an thành phố Tam Điệp tiến hành kiểm tra. Sau đó D tự tay lấy bao thuốc trong túi quần bên trái ra giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác thu giữ và kiểm tra bao thuốc lá Thăng Long màu vàng do D giao nộp, xác định bao thuốc đã bóc một đầu, bên trong bao thuốc có 04 điếu thuốc lá, ở vị trí kẽ giữa vỏ túi ni lon bọc ngoài bao thuốc với vỏ bao thuốc có một gói giấy bạc màu vàng, mở gói giấy bạc màu vàng kiểm tra bên trong có chất bột dạng cục màu trắng, D khai là ma túy Heroine của D mua được của một người đàn ông không quen biết tại đường TP vào chiều ngày 9/5/2022 mang theo để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra D còn giao nộp cho công an 01 căn cước công dân số 011085006351 mang tên Tòng Văn D và số tiền 270.000 đồng. Tổ công tác đưa Tòng Văn D cùng vật chứng về trụ sở Công an thành phố Tam Điệp lập biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Công an thành phố Tam Điệp đã lấy toàn bộ chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Tòng Văn D ký hiệu M gửi đi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 342/KL-KTHS-MT ngày 13/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
“Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2282 gam, là ma túy, loại Heroine
Heroine là chất ma túy thuộc danh mục I, số thứ tự 9; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.
Tại bản cáo trạng số: 53/CT-VKS ngày 22 tháng 7 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Tòng Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Tòng Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Tòng Văn D từ 17 tháng tù đến 20 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 09/5/2022 .
- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng, bao gồm: 0,1762 gam là ma túy, loại Heroine được hoàn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01(một) mảnh giấy bạc KT(4x4)cm; 01 (một) vỏ phong bì giấy đã rách một đầu dùng để niêm phong vật chứng; 01(một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, đã bị bóc một đầu, bên trong có 04 điếu thuốc lá, ngoài bao thuốc có vỏ bọc ni lon. Trả lại cho bị cáo số tiền 270.000 đồng.
Quá trình điều tra Tòng Văn D đã khai nhận hành vi cất giữ 0,2282 gam, là ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân, thừa nhận việc bị khởi tố, điều tra về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng.
Tại phiên tòa, bị cáo Tòng Văn D đã khai nhận khoảng 13 giờ 30 phút ngày 09/5/2022, tại vỉa hè đường Trần Phú phía bên phải hướng từ đường Trần Phú ra quốc lộ 1A, thuộc tổ 9, phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, bị cáo đang cất giữ trong túi quần 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói chứa 0,2282 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị công an phát hiện, bắt giữ. Bị cáo thừa nhận bị truy tố là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị được mức hình phạt nhẹ nhất.
Người làm chứng Lê Văn T, người chứng kiến Nguyễn Khánh N trong quá trình điều tra đều khai báo khoảng 13 giờ 30 phút ngày 09/5/2022 tại vỉa hè đường Trần Phú phía bên phải hướng từ đường Trần Phú ra quốc lộ 1A thuộc tổ 9, phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã được chứng kiến công an kiểm tra đối với bị cáo Tòng Văn D phát hiện bị cáo cất giữ trong túi quần 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói chất bột dạng cục màu trắng, bị cáo khai nhận là Heroine cất giữ để sử dụng cho bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: khoảng 13 giờ 30 phút ngày 09/5/2022, tại đường Trần Phú, thuộc tổ 9, phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, bị cáo Tòng Văn D đã có hành vi cất trữ trái phép 0,2282 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi cất giữ trái phép chất ma túy trong người để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên là trái phép, do cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương.
Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Khối lượng ma túy Heroine bị cáo tàng trữ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: năm 2013, bị cáo đã từng có hành vi đánh bạc bị xử phạt vi phạm hành chính, đã đủ điều kiện được coi như chưa bị xử lý hành chính.
Về hình phạt: xét tính chất hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, khối lượng, loại chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép và nhân thân của bị cáo thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp xử phạt bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội, đủ nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với 01(một) Căn cước công dân số 011085006351 mang tên Tòng Văn D là giấy tờ tùy thân không sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo là đúng quy định của pháp luật.
Đối với số ma túy được hoàn lại sau khi giám định là vật cấm lưu hành; toàn bộ vỏ bao gói trong gói niêm phong, 01(một) mảnh giấy bạc KT(4x4)cm; 01 (một) vỏ phong bì giấy đã rách một đầu dùng để niêm phong vật chứng thu giữ ban đầu của Tòng Văn D, 01(một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 04 điếu thuốc lá là vật không còn giá trị. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự
Đối với số tiền số tiền 270.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo trình bày có bị thu giữ 01 chiếc điện thoại, xem xét biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người chứng kiên thì cơ quan điều tra không thu giữ của bị cáo điện thoại trong quá trình tố tụng vì vậy chiếc điện thoại mà bị cáo trình bày tại phiên tòa không phải là vật chứng của vụ án, mặt khác bị cáo không khai báo sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma túy, do vậy không có cơ sở để xem xét giải quyết, bị cáo có quyền liên hệ với cơ quan công an để giải quyết.
Về nguồn gốc ma túy: bị cáo Tòng Văn D khai mua được của một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để tiến hành điều tra, xử lý là có căn cứ.
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Tòng Văn D bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Tòng Văn D 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 09/5/2022.
3. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp.
3.1. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì giấy niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số: 342/KL-KTHS-MT. Vụ: Tòng Văn D, Sn 1985, tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 09/5/2022 phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp, Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M=0,1762 gam là ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.
- 01 phong bì giấy niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 (một) vỏ phong bì giấy đã rách một đầu, 01(một) mảnh giấy bạc KT(4x4)cm.
- 01(một) bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, đã bị bóc một đầu, bên trong có 04 điếu thuốc lá, ngoài bao thuốc có vỏ bọc nilon.
(Vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 01/8/2022 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp)
3.2. Trả lại cho bị cáo Tòng Văn D số tiền 270.000 đồng (hai trăm bảy mươi nghìn đồng).
(Theo ủy nhiệm chi lập ngày 28/7/2022 giữa Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự TP. Tam Điệp)
4. Về án phí: bị cáo Tòng Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hánh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình; - Công an tỉnh Ninh Bình; - VKSND thành phố Tam Điệp; - Cơ quan Điều tra CATP Tam Điệp; - Cơ quan THA hình sự CATP Tam Điệp; - Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp; - Bị cáo; - Lưu: HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Quách Thành Trung |