- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Kh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh L (B Anh) phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2022/HS-ST Ngày: 07/6/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Trình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hưng
2. Ông Huỳnh Văn Hùng
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Lê An Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2022/TLST-HS ngày 20/4/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh L (B Anh), sinh năm 1988 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: 210A1, đường M, khu phố O, phường N, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; trình độ văn hóa: 4/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh B (chết) và bà Hồ Thị Đ, sinh năm 1965; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: không;
Tiền sự: không;
Về nhân thân: Ngày 03/6/2009, bị Công an phường 5, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre ra xử phạt 150.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 03/6/2009, bị Công an phường N, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xử phạt 350.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 20/8/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (chấp hành bản án ngày 08/8/2010). Ngày 01/3/2011, bị Công an phường S, thành phố Bến Tre xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 21/12/2011, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm tuyên phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong bản án ngày 12/7/2012). Ngày 19/10/2012, bị Ủy ban nhân dân quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 09/5/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (chấp hành xong bản án ngày 24/4/2018). Ngày 08/12/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử tuyên phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
Bị cáo bị tự nguyện chấp hành án ngày 21/01/2022 theo Bản án số 91/2021/HS-ST ngày 08/12/2021 đến ngày 15/02/2022 bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Đặng Văn T, sinh năm 1968, nơi cư trú: số 156B, đường Đ, khu phố B, phường S, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Thanh Đ, 1984, nơi cư trú: số 138, đường L, ấp A, xã M, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
2. Hồ Thị Đ, sinh năm 1965, nơi cư trú: số 210A1, đường Đ, khu phố O, phường N, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. (có mặt)
- Người làm chứng: Lê Huỳnh Thiên Ng, sinh năm 2002, nơi cư trú: số 272B, khu phố O, phường T, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 24/12/2021, Nguyễn Thanh L một mình điều khiển xe đạp điện đi trên đường Đ thuộc phường S, thành phố Bến Tre. Khi đi ngang qua tiệm sửa xe T của anh Đặng Văn T ở số 156B, đường Đ, khu phố B, phường S, thành phố Bến Tre, L phát hiện xe mô tô, nhãn hiệu Nouvo, biển số 71B2-100.42 (xe của anh Nguyễn Thanh Đ gửi cho anh T sửa) đang dựng trong tiệm không người trông coi và chìa khóa gắn trên xe nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Để thực hiện ý định, L điều khiển xe đạp điện chạy đến hẻm đối diện tiệm sửa xe cất giấu rồi lén lút đi bộ đến lấy xe mô tô, biển số 71B2-100.42 của anh T rồi tẩu thoát. Sau khi lấy được xe mô tô của anh T, L điều khiển đến nhà trọ H ở xã B, thành phố Bến Tre gởi cho Lê Huỳnh Thiên Ng. Sau đó, L đi bộ trở lại lấy xe đạp điện thì bị lực lượng Công an phát hiện và thu giữ tang vật.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe đạp điện, nhãn hiệu ASAMA, màu đỏ;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Nouvo, biển số 71B2-10042, màu đỏ, đen.
Theo Bản kết luận định giá trị tài sản số 44/KL-HĐĐG ngày 18/01/2022 của Hội đồng định giá thành phố Bến Tre kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo, biển số 71B2-100.42, màu đỏ đen, số khung 2S208Y018041, số máy 22S2-018041 (đã qua sử dụng). Trị giá tài sản ngày 24/12/2021 là 5.500.000 đồng (bút lục 13-15).
Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan, người làm chứng, kết quả thực nghiệm điều tra và các chứng cứ khác đã thu thập được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trả lại cho anh Nguyễn Thanh Đ (chủ sở hữu) xe mô tô bị chiếm đoạt và trả cho bà Hồ Thị Đ (mẹ ruội bị cáo) 01 xe đạp điện hiệu ASAMA. Hiện bị hại không yêu cầu gì thêm.
Tại cáo trạng số 37/CT-VKSTPBT ngày 19/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị:
+ Về hình phạt chính: áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng.
+ Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trả lại cho anh Nguyễn Thanh Đ (chủ sở hữu) xe mô tô bị chiếm đoạt và trả cho bà Hồ Thị Đ (mẹ ruội bị cáo) 01 xe đạp điện hiệu ASAMA. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì khác.
- Bị cáo khai nhận vào khoảng 17 giờ ngày 24/12/2021, bị cáo mượn xe đạp điện của mẹ của bị cáo là bà Hồ Thị Đ để đi mua thuốc hút và đi qua nhà bạn gái của bị cáo thì phát hiện tại tiệm sửa xe số 156B, Đ, khu phố B, phường S, thành phố Bến Tre 01 xe mô tô, nhãn hiệu Nouvo, biển số 71B2-100.42 có gắn chìa khóa không người trong coi nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt. Bị cáo bỏ xe đạp ở hẻm đối diện tiệm sửa xe rồi lén lút lấy trộm xe đem đến nhà trọ của bạn gái bị cáo gửi, bị cáo không có nói xe này do bị cáo lấy trộm. Sau đó, bị cáo quay lại lấy xe đạp thì bị bắt như cáo trạng đã nêu. Bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hồ Thị Đ trình bày: ngày 24/12/2021, bị cáo hỏi mượn xe của bà để đi mua thuốc hút và đi qua nhà bạn gái của bị cáo. Bà không biết bị cáo dùng xe đạp của bà để đi trộm tài sản. Bà đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì khác.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thanh L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: vào khoảng 17 giờ ngày 24/12/2021, tại tiệm sửa xe số 156B, đường Đ, khu phố B, phường S, thành phố Bến Tre, Nguyễn Thanh L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của bị hại Đặng Văn T 01 xe mô tô, nhãn hiệu Nouvo, biển số 71B2-100.42, trị giá 5.500.000 đồng.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng luật định.
Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, lợi dụng chủ sở hữu thiếu cảnh giác trong việc quản lý tài sản đã thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Khi bị cáo thực hiện tội phạm đã gây ra tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong lao động, trong sinh hoạt hàng ngày.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bi xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy và đã nhiều lần bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo đang trong thời gian chờ chấp hành bản án về tội trộm cắp tài sản mà lại tiếp tục thục hiện hành vi phạm tội nên cầm xem xét khi lượng hình đối với bị cáo. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại các điểm h, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
Về tổng hợp hình phạt: Ngày 08/12/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử tuyên phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số: 91/2021/HS-ST nêu áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt 02 năm tù với hình phạt của bản án này để buộc bị cáo chấp hành chung.
Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo là “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trả lại cho anh Nguyễn Thanh Đ (chủ sở hữu) xe mô tô bị chiếm đoạt và trả cho bà Hồ Thị Đ (mẹ ruội bị cáo) 01 xe đạp điện hiệu ASAMA. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì khác.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản.
Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh L (B Anh) phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù của bản án số: 91/2021/HS-ST ngày 08/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2022.
2. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thanh L phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND thành phố Bến Tre (1b); - Cơ quan điều tra CATP Bến Tre (1b); - Cơ quan THAHS CATP Bến Tre (1b); - Chi cục THA dân sự thành phố Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND P. N, TP. Bến Tre (1b); - Bị cáo, Bị hại, NCQLNVLQ (4b); - Bộ phận thi hành án Hình sự (3b); - Lưu (văn phòng, hồ sơ vụ án) (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Văn Trình |