vanban.org

Bản án 54/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 17/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Trần Thị T cho Ủy ban nhân dân phường L, quận L, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Trong trường hợp người được cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Tư - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Trần Thị T cho Ủy ban nhân dân phường L, quận L, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN N
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2022/HS-ST
Ngày 17-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Thị T, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1977 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Số 07/9/17/32/143 đường T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số 23/130 đường L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Hoàn (đã chết) và bà Vũ Thị Hay; có chồng là Lê Văn Hùng (đã chết) và 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 24/3/2022, đến ngày 01/4/2022 thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thị T bán quán nước ở chân cầu Hoàng Văn Thụ, do khó khăn về kinh tế nên khoảng đầu tháng 3/2022, T nảy sinh ý định bán số đề cho khách vãng lai để kiếm thêm thu nhập. Với quy ước “số đề” là 02 số cuối của giải đặc biệt của Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng hàng ngày, “số bao” là 02 số cuối của các giải, “số bao xiên 2” là dãy số gồm 02 “số bao”, “số bao xiên 3” là dãy số gồm 03 số bao, “số ba càng” là 03 số cuối của giải đặc biệt. Với cách thức trên, T tự làm một mình chứ không chuyển bảng cho ai bằng cách ghi tích kê số đề khách mua vào mặt sau tờ giấy hóa đơn bán hàng nước của mình rồi ký tên và đưa cho khách, không lưu lại bản nào, nếu khách trúng thì mang tích kê đó đến để T so sánh chữ ký, chữ viết, nếu đúng thì T trả thưởng cho khách bằng tiền mặt với quy ước: “Số đề” trúng được gấp 90 lần số tiền đánh, “số bao” trúng được gấp 3,5 lần số tiền đánh, “số bao xiên 2” trúng được gấp 14 lần số tiền đánh, “số bao xiên 3” trúng được gấp 48 lần số tiền đánh, “số ba càng” trúng được gấp 400 lần số tiền đánh.

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 24/3/2022, T bán cho Nguyễn Bá Mạnh (sinh 1962; nơi cư trú: Số 2B/409 Miếu Hai Xã, Dư Hàng Kênh, L, Hải Phòng) 02 số bao 16-60, mỗi số 1.000.000 đồng; bán cho Lê Anh Tuấn (sinh 1979; nơi cư trú: Số 4/291 Đông Khê, N, Hải Phòng) 05 cặp số bao xiên hai 08-78, 83-02, 56-02, 78-02, 57-02, mỗi cặp số 200.000 đồng, 02 số đề 78-11, mỗi số 100.000 đồng, 02 số bao 78- 08, mỗi số 400.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, T tiếp tục bán cho Phạm Bá Dũng (sinh 1992; nơi cư trú: Số 8/24/32 xóm Trung, Đằng Giang, N, Hải Phòng) 01 số đề 60 là 50.000 đồng, 01 số bao 60 là 1.000.000 đồng. Khi Dũng vừa đưa tiền và nhận tích kê của T thì bị Công an quận N bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 03 tích kê ghi số đề ngày 24/3/2022 có chữ ký của Trần Thị T và số tiền 5.050.000 đồng thu giữ của Trần Thị T.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Thị T tại số 23/130 L, phường L, L, Hải Phòng, Cơ quan điều tra phát hiện và thu giữ trong tủ giày: 01 túi nilon màu trắng trong chứa 01 miếng chất tối màu, kích thước khoảng 02x06cm, dày khoảng 01cm (niêm phong mẫu số 01); 01 túi nilon kích thước khoảng 05x10cm màu trắng, bên trong có chứa các hạt tối màu (niêm phong mẫu số 02). T khai nhận đây là tủ giày của chồng đã mất, không thừa nhận những đồ vật thu giữ trên là của T và không biết những đồ vật này là của ai.

Kết luận giám định số 112/KL-KTHS(MT) ngày 31/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất dẻo màu đen của mẫu số 01 gửi giám định có khối lượng 29,92 gam, không phải là chất ma túy; Các hạt và thảo mộc khô vụn của mẫu số 02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,87 gam, là loại Cần sa (hoa, lá và hạt cây cần sa).

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 04/QĐ-VKSNQ ngày 04/6/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Trần Thị T về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Trần Thị T khai nhận hành vi thực hiện như nội dung nêu trên, như quyết định truy tố và các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Thẩm phán xét xử mức án thấp nhất.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên tội danh bị cáo Trần Thị T như nội dung Quyết định truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Thẩm phán: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Trần Thị T từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Về vật chứng: Đề nghị Thẩm phán tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 5.050.000 đồng; tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 112 MT/PC09 chứa 19,63 gam chất dẻo và 0,32 gam các hạt thảo mộc khô vụn; 01 phong bì niêm phong số 112 MT-A/PC09 chứa vỏ bao gói. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngoài ra bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, bị bệnh hiểm nghèo nên đề nghị Thẩm phán miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa nhận định như sau:

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Đây là vụ án phạm tội quả tang, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, tội phạm thực hiện là tội ít nghiêm trọng, người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng. Vì vậy vụ án đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại Điều 456 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận N, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về việc xác định tội danh, điều luật áp dụng:

Hồi 18 giờ 15 phút ngày 24/3/2022, tại khu vực gầm cầu Hoàng Văn Thụ, Máy Tơ, N, Hải Phòng, Trần Thị T đang bán số đề cho Phạm Bá Dũng, Phạm Bá Mạnh và Lê Anh Tuấn với tổng số tiền bán đề là 5.050.000 đồng thì bị bắt quả tang

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Thị T phạm tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Trần Thị T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Trần Thị T đều phạm tội ít nghiêm trọng và có nơi thường trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội nên xử phạt bị cáo với mức hình phạt là cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú và gia đình quản lý là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Bị cáo Trần Thị T làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, bị bệnh hiểm nghèo nên miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo Trần Thị T không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, không có tài sản và bị bệnh hiểm nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 5.050.000 đồng cơ quan công an thu giữ, xét đây là số tiền do phạm tội mà có nên tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 112 MT/PC09 chứa 19,63 gam chất dẻo và 0,32 gam các hạt thảo mộc khô vụn; 01 phong bì niêm phong số 112 MT-A/PC09 chứa vỏ bao gói.

- Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt: Trần Thị T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Khi chấp hành án trừ cho bị cáo 24 (hai mươi bốn) ngày cải tạo không giam giữ do bị cáo đã bị tạm giữ 08 (tám) ngày trước đó từ ngày 24/3/2022 đến ngày 01/4/2022. Bị cáo Trần Thị Thu còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 06 (sáu) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường L, quận L, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Trần Thị T cho Ủy ban nhân dân phường L, quận L, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Trần Thị T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường L, quận L, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát và giáo dục bị cáo Trần Thị T.

Trong trường hợp người được cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền đánh bạc là 5.050.000 (năm triệu, không trăm, năm mươi nghìn) đồng.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 112 MT/PC09 chứa 19,63 gam chất dẻo và 0,32 gam các hạt thảo mộc khô vụn; 01 phong bì niêm phong số 112 MT-A/PC09 chứa vỏ bao gói.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2022 giữa Công an quận N, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án quận N, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc: Bị cáo Trần Thị T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Trần Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ