vanban.org

Bản án 54/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 19/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm dân sự:

Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại số tiền sửa xe là 5.000.000đồng (Năm triệu đồng). Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 1 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HTG - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2022/HS-ST
Ngày 19-9-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Thu Hiền;

Ông Trần Ngọc Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Lệ Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

HTG, sinh ngày 25 tháng 6 năm 1983 tại Hải Phòng. ĐKHKTT: Số 19 A, phường A, quận B, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Số C, phường D, quận E, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông F và bà G; có vợ là H và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 06/6/2022 chuyển tạm giam ngày 15/6/2022; có mặt.

- Bị hại:

Ông BH, sinh năm 1962; địa chỉ: Số 3/2 I, phường I, quận J, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh NLQ, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số 41 K, phường L, quận M, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người làm chứng:

Chị NLC1, anh NLC2; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 18 tháng 8 năm 2021 NLQ và NLC1 được HTG điều khiển xe máy điện chở đến nhà ông BH chơi. Do có việc đột xuất nên HTG đi xe về trước, Đến khoảng 11 giờ cùng ngày NLQ mượn xe môtô Biển kiểm soát 15C1-275.60 của ông BH để chở NLC1 về và hẹn với ông BH 15 phút sau sẽ trả xe, ông BH đồng ý cho NLQ mượn xe. NLQ điều khiển xe đến khách sạn N, địa chỉ số 585 O, E, Hải Phòng vào phòng của anh NLC2 chơi. Tại đây NLQ nảy sinh ý định cầm xe của ông BH để lấy tiền tiêu xài nên gọi điện cho HTG bảo: “Anh đi về đây xem cầm xe của anh BH để lấy tiền chuộc xe của anh” thì HTG đồng ý. Khoảng 20 phút sau HTG đến, NLQ và HTG đem xe của ông BH đi sang Kiến An tìm nơi cầm xe nhưng không được nên cả hai quay về khách sạn N. Tại đây HTG gọi vào số điện thoại 0352313126 cho P (tên gọi khác là P đen) để cầm xe. Khi P đen đến khách sạn N, đồng ý cầm xe môtô Biển kiểm soát 15C1-27560 với giá 7.000.000đồng. NLQ và HTG cho anh NLC2 vay số tiền 2.500.000đồng. HTG đưa cho NLQ 200.000đồng, số tiền còn lại HTG dùng để chuộc xe, chuộc điện thoại, thuê nhà nghỉ và mua đồ ăn. NLQ dùng số tiền 200.000đồng mà HTG đưa cho để đi mua ma túy của một người phụ nữ không quen biết tại khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn về sử dụng một mình. Sau khi cầm được xe của ông BH, NLQ chủ động tắt điện thoại để ông BH không thể liên lạc được. Do không thấy NLQ trả xe như đã hẹn, không thể liên lạc được với NLQ nên ngày 23/8/2021 ông BH gọi điện cho HTG hỏi có biết NLQ mượn xe của anh BH vào việc gì không thì HTG trả lời không biết. Khi ông BH gọi lại cho HTG nói muốn chuộc lại xe thì HTG lại bảo HTG biết và liên hệ với P đen để chuộc xe. Tối ngày 23/8/2021 ông BH và HTG đến quán Q tại địa chỉ 383 R, S, T chuyển tiền. Tại đây ông BH đưa cho HTG tổng số tiền là 7.220.000đồng, trong đó tiền chuộc xe là 7.160.000đồng, tiền phí là 60.000đồng. HTG vào trong quán nhờ nhân viên chuyển số tiền trên vào tài khoản 19036874693011 cho P đen, sau đó cả hai đi về khu vực nhà máy nước T, E đứng đợi. Khoảng 30 phút sau có một thanh niên chưa rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ mang xe môtô Biển kiểm soát 15C1-27560 đến đưa cho ông BH. Ông BH nhận xe và sau đó đến Cơ quan Công an để trình báo sự việc. Ngày 16/12/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng khởi tố vụ án, ngày 24/3/2022 khởi tố bị can đối với NLQ, ngày 16/4/2022 kết thúc điều tra đề nghị truy tố đối với NLQ. Ngày 31/5/2022 Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xét xử NLQ 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. HTG sau khi thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn đến ngày 06/6/2022 bị cáo ra đầu thú.

Tại Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự Ủy ban nhân dân quận Hồng Bàng kết luận:

- 01 xe môtô nhãn hiệu Honda; số loại: Air Blade; Biển số 15C1-27560; số máy: JF46E5106654; Số khung RLHJF4619EY406619; màu sơn đen xám; chất lượng còn lại 60-62% tại thời điểm định giá tháng 9 năm 2021 là 26.000.000đồng.

Tại Cáo trạng số: 50/CT-VKSHB ngày 17-8-2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố HTG về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Ông BH đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại 01 xe môtô nhãn hiệu Honda; số loại: Air Blade; Biển số 15C1-27560 là tài sản của ông BH.

Về trách nhiệm dân sự: Ông BH yêu cầu bị cáo HTG phải bồi thường cho ông BH số tiền 5.000.000đồng là chi phí sửa xe do NLQ và HTG mang đi cầm xe bị hư hỏng.

Anh NLQ yêu cầu bị cáo HTG hoàn trả lại cho NLQ số tiền 4.500.000đồng là tiền NLQ bỏ ra bồi thường toàn bộ cho ông BH số tiền 9.000.000đồng.

Đối với NLC1 và NLC2 có sử dụng, vay mượn tiền của NLQ, tuy nhiên không biết việc NLQ và HTG bàn bạc cầm cố xe của ông BH nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý.

Đối với P (tên gọi khác là P đen) hiện vắng mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa ghi được lời khai để làm rõ ý thức chủ quan của P trong vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Đối với người thanh niên mang xe môtô Biển kiểm soát 15C1-275.60 đến giao cho HTG tại khu vực nhà máy nước T, E, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo HTG từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Không chấp nhận yêu cầu của bị hại đòi bồi thường thiệt hại số tiền 5.000.000đồng vì việc bồi thường dân sự đã được giải quyết xong tại bản án số 29/2022/HS-ST ngày 31/5/2022 đã có hiệu lực pháp luật, mặt khác bị hại không cung cấp được hóa đơn, chứng từ chứng minh đã sửa xe hết 5.000.000đồng. Buộc bị cáo HTG phải hoàn trả lại cho NLQ số tiền 4.500.000đồng là tiền NLQ bồi thường thay phần của HTG.

Về xử lý vật chứng: Không.

Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm; 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của bị hại không được chấp nhận nên bị hại phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đã truy tố là đúng; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đối với yêu cầu đòi bồi thường số tiền sửa xe là 5.000.000đồng của bị hại thì bị cáo không chấp nhận vì bị hại không có hóa đơn, chứng từ chứng minh. Bị cáo đồng ý hoàn trả lại cho NLQ số tiền 4.500.000đồng là tiền NLQ đứng ra bồi thường cho bị hại thay bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng, bản kết luận định giá tài sản cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 18 tháng 8 năm 2021, HTG cùng NLQ lợi dụng sự tín nhiệm của chủ tài sản, mượn tài sản là chiếc xe môtô Biển số 15C1-27560, sau đó thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là đem chiếc xe đi cầm cố, đến thời hạn trả lại tài sản thì dùng thủ đoạn tắt máy điện thoại, mục đích để chủ tài sản không liên lạc được nhằm chiếm đoạt tài sản qua định giá có trị giá là 26.000.000đồng. Bị cáo HTG là người có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc lợi dụng lòng tin của chủ tài sản để chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng do nhu cầu tiêu xài cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Trị giá chiếc xe môtô Biển số 15C1-27560 bị cáo chiếm đoạt qua định giá là 26.000.000đồng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bởi vậy, cần phải được xử lý nghiêm.

Trong vụ án này, sau khi NLQ mượn được xe của ông BH, NLQ có vai trò là người rủ HTG mang xe đi cầm cố. HTG có vai trò là người thực hành tích cực, là người trực tiếp đi tìm và thực hiện giao dịch với người cầm đồ, nhận tiền cầm đồ, phân chia số tiền được hưởng lợi và được sử dụng số tiền hưởng lợi nhiều hơn. Bởi vậy, xác định vai trò của bị cáo HTG và NLQ cơ bản là ngang nhau trong vụ án.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo HTG không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa, bị cáo HTG thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi bị truy nã bị cáo tự nguyện ra đầu thú, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Như đã phân tích ở mục [6] vai trò của bị cáo và NLQ cơ bản là ngang nhau trong vụ án. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo lại bỏ trốn và bị truy nã gây khó khăn trong công tác điều tra, truy tố, xét xử mặt khác bị cáo chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bị hại. Điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo kém nên cần cách ly bị cáo khỏi bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian và xét xử bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt với mức hình phạt cao hơn của NLQ mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, căn cứ nguyên tắc xử lý của pháp luật hình sự cần khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, áp dụng hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập, không có căn cứ xác định bị cáo có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

Xét yêu cầu đòi bồi thường của bị hại: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện nội dung bị hại yêu cầu NLQ và HTG phải bồi thường số tiền 9.000.000đồng. NLQ đã đứng ra bồi thường toàn bộ cho bị hại số tiền 9.000.000đồng, bị hại không còn yêu cầu, đề nghị bồi thường gì khác. Tại bản án số 29/2022/HS-ST ngày 31/5/2022 đã có hiệu lực pháp luật tuyên bị hại đã được nhận số tiền 9.000.000đồng, không còn yêu cầu, đề nghị bồi thường gì khác nên phần trách nhiệm dân sự đã thực hiện xong. Nay bị hại lại yêu cầu bị cáo HTG phải bồi thường số tiền sửa xe là 5.000.000đồng nhưng bị hại không cung cấp được hóa đơn, chứng từ chứng minh. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại số tiền sửa xe là 5.000.000đồng.

Xét yêu cầu của NLQ yêu cầu bị cáo HTG phải hoàn trả cho NLQ số tiền 4.500.000đồng thấy: Đây là vụ án có đồng phạm và các bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ liên đới bồi thường. NLQ đã bồi thường toàn bộ cho bị hại số tiền theo yêu cầu của bị hại là 9.000.000đồng. Do đó NLQ có quyền yêu cầu HTG phải hoàn trả lại phần NLQ đã bồi thường thay cho HTG là có cơ sở theo Điều 288, Điều 587 Bộ luật Dân sự. Mặt khác tại phiên tòa bị cáo HTG đồng ý hoàn trả lại số tiền 4.500.000đồng cho NLQ. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của NLQ về việc buộc bị cáo HTG phải hoàn trả lại cho NLQ số tiền 4.500.000đồng.

Về xử lý vật chứng: Không.

Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Bị hại phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại không có căn cứ chấp nhận và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: HTG 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06 tháng 6 năm 2022.

- Về trách nhiệm dân sự:

Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại số tiền sửa xe là 5.000.000đồng (Năm triệu đồng).

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 288, Điều 587 Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc bị cáo HTG phải hoàn trả lại cho NLQ số tiền 4.500.000đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 1 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Buộc bị cáo HTG phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị hại phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại không có căn cứ chấp nhận.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ