vanban.org

Bản án 54/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 29/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc D (Tí D) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Quốc D 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/10/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Quốc D bị xử về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" khoản 2 Điều 251 BLHS - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 L…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc D (Tí D) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bản án số: 54/2022/HS-ST
Ngày: 29/4/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XM,TỈNHBÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thảo.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Khanh.

Bà Nguyễn Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XM tham gia phiên tòa:

Ông Cù Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 28/2022/HSST ngày 05 tháng 4 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2022/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc D(tên gọi khác: Tí D), sinh năm: 1998 tại Bà Rịa – Vũng Tàu;

Nơi cư trú: Ấp NN, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc Đ, sinh năm: 1977 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1983; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 16/3/2016 bị Tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 06 tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”, theo bản án số 14/2016/HS-ST.

Bị bắt tạm giam: ngày 28/10/2021.

“Bị cáo có mặt”.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Dương Tiến T (tên gọi khác: Q), sinh năm: 1990 “có mặt”.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp NT, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện XM.

- Lê Như T (tên gọi khác: H), sinh năm: 1984 “có mặt”.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 5, Ấp NN, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện XM.

- BàĐào Thị V, sinh năm: 1952; nơi cư trú: Ấp NN, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu “có mặt”.

Người làm chứng:

Ông Dương Hoàng Sơn, sinh năm: 1996; nơi cư trú: Ấp Nhân Tâm, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 01 tháng 09 năm 2021 Công an xã XM, huyện XM tuần tra trên địa bàn xã, khi đến khu vực rào chắn thuộc tổ 3, Ấp NN, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, lực lượng Công an phát hiện 02 đối tượng có biểu hiện nghi vấn, khi thấy lực lượng Công an thì có một đối tượng bỏ chạy, còn lại Nguyễn Quốc D, sinh năm1998. Lúc này, lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bên kia hàng rào chắn gần vị trí D đang đứng có 01 gói nylon hàn kín, có chứa chất kết tinh, không màu - trong suốt (nghi là ma tuý đá). Qua làm việc đối tượng D khai nhận 01 gói nylon hàn kín, có chứa chất kết tinh, không màu - trong suốt là ma tuý đá, khi thấy Công an đến kiểm tra D lo sợ bị phát hiện nên đã vứt gói ma tuý xuống đường gần vị trí D đứng. Lực lượng Công an lập biên bản, niêm phong tang vật và mời D về trụ sở làm việc.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Quốc D khai nhận khoảng 22 giờ ngày 01/9/2021, D liên hệ với một người tên Bé (chưa rõ lai lịch) hỏi mua 250.000 đồng ma tuý đá, rồi D hẹn Bé tới ấp Nhân Tâm, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu để giao ma tuý, Bé đồng ý. Sau đó,D đi đến điểm hẹn đưa cho Bé số tiền 250.000 đồng và Bé đưa cho D 01 gói ma tuý đá. Sau khi mua được ma tuý D đi đến chốt rào chắn gần chợ Xuyên Mộc thuộc Ấp NN, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để lấy đồ ăn về cho bà ngoại. Trong lúc chờ lấy đồ ăn, D có gọi cho một người bạn tên thường gọi Chó Con (chưa rõ lai lịch) đến để nói chuyện. Khi Chó Con vừa đến thì có Công an đến kiểm tra D lo sợ nên đã vứt gói ma túy xuống bên kia hàng rào gần vị trí D đang đứng, còn Chó Con bỏ chạy. Mục đích D mua ma tuý là để sử dụng và bán lại cho các con nghiện khác.

Ngoài mua ma túy của Bé (chưa rõ lai lịch) Nguyễn Quốc D còn mua ma túy của Lê Như Tú, sinh năm 1984, HKTT: Ấp NN, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 02 lần, cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào ngày 24/8/2021, D liên hệ với Tú hỏi mua ma tuý đá với số tiền 1.000.000 đồng, Tú đồng ý và hẹn D đến nhà Tú giao ma tuý.

Lần thứ hai: Vào ngày 30/8/2021,D liên hệ với Tú hỏi mua ma tuý đá với số tiền 1.100.000đ, Tú đồng ý và hẹnDđến nhà Tú giao ma túy.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa D còn khai nhận Nguyễn Quốc Dđã bán ma tuý cho Dương Tiến T, sinh năm 1990, HKTT: Ấp NT, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tất cả 07 lần, cụ thể:

Khoảng 10 giờ, ngày 06/8/2021, Thành gọi cho D hỏi mua 01 gói ma tuý đá với số tiền 200.000 đồng, D đồng ý, sau đó Thành gặp D đưa số tiền 180.000 đồng và lấy từ D 01 gói ma túy đá (Thành còn nợ lại D 20.000 đồng). Trước đó vào ngày 01/8/2021, D có bán cho T 01 gói ma tuý đá với số tiền 150.000 đồng tại nhà của D ở Ấp NN, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Còn 05 lần khác D bán ma tuý cho Thành với số tiền từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng nhưng không nhỡ rõ thời gian cụ thể, tại phiên tòa bị cáo và Thành khai nhận trong 05 lần mua bán ma túy thì 04 lần bán ma túy cho Thành với giá 150.000 đồng, 01 lần bán ma túy cho Thành với giá 200.000 đồng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Quốc D, Dương Tiến T và Lê Như T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại bản kết luận giám định số 459/KLGĐ-PC09-MT ngày 09/9/2021, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, kết luận: Mẫu chất kết tinh, không màu trong suốt chứa trong 01 gói nylon hàn kín, được niêm phong trong phong bì màu trắng, gửi đến giám định có khối lượng 0,2920 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 bì thư màu vàng, được niêm phong là ma túy còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số IMEI: 352877109798319; 01 xe mô tô loại Dream, màu nâu, không có biển kiểm soát, số máy: RPKFM1P52FMH-00031640, số khung: RPKDCH2PKDH-021640.40, qua xác minh các tài sản này do chị Lê Út H, sinh năm 1987, địa chỉ: ấp Phú Quý, xã Hoà Hiệp, huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là người đứng tên trên giấy đăng ký xe. Qua làm việc với bà V khai nhận bà mua lại chiếc xe này vào năm 2014 với số tiền 3.000.000 đồng, nhưng khi mua không làm giấy tờ mua bán, không làm thủ tục sang tên, đến nay Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được với chị H, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa có ai tới nhận chiếc xe, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện XM đang tạm giữ để chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự huyện XM chờ xử lý.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Dương Tiến T, Lê Như T và bà Đào Thị V trình bày phù hợp với lời khai của bị cáo cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số 36/CT – VKS - XM ngày 04 tháng 4 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện XM truy tố bị cáo Nguyễn Quốc Dvề tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải nộp số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.

Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã được niêm phong có số ký hiệu vụ số: 459 ngày 09/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là ma túy còn lại sau giám định.

- Trả lại cho bàĐào Thị V:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số IMEI: 352877109798319, do bà V không biết bị cáo dùng để liên lạc mua, bán ma túy.

+ 01 xe mô tô loại Dream màu nâu, không có biển kiểm soát, số máy: RPKFM1P52FMH – 00031640, số khung: RPKDCH2PKDH – 021640.40, do bà V không biết bị cáo mượn để đi mua, bán ma túy.

Bị cáo Nguyễn Quốc Dnói lời sau cùng: Bản thân bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện XM, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện XM, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đối chiếu với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và những người tham gia tố tụng khác cũng như những tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ là phù hợp. Theo đó xác định được rằng:

Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 01/9/2021 Công an xã XM, huyện XM đi tuần tra trên địa bàn xã khi đến khu vực thuộc tổ 3, Ấp NN, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì phát hiện 02 đối tượng có biểu hiện nghi vấn, 01 đối tượng bỏ chạy, còn lại bị cáo Nguyễn Quốc D, lúc này lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bên kia rào chắn gần vị trí bị cáo đang đứng có 01 gói nylon hàn kín, có chứa chất kết tinh, không màu – trong suốt.

Tại bản kết luận giám định số 459/KLGĐ - PC09 - MT ngày 09/9/2021, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, kết luận: Mẫu chất kết tinh, không màu trong suốt chứa trong 01 gói nylon hàn kín, được niêm phong trong phong bì màu trắng, gửi đến giám định có khối lượng 0,2920 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận, bị cáo mua gói ma túy trên từ người tên B (chưa rõ lai lịch) mục đích bị cáo mua là để sử dụng và bán cho các con nghiện khác.

Ngoài mua ma túy của B, bị cáo còn mua ma túy của Lê Như T 02 lần, cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào ngày 24/8/2021,D liên hệ với T hỏi mua ma tuý đá với số tiền 1.000.000 đồng, Tú đồng ý và hẹnDđến nhà Tú giao ma tuý.

Lần thứ hai: Vào ngày 30/8/2021,D liên hệ với T hỏi mua ma tuý đá với số tiền 1.100.000đ, T đồng ý và hẹn D đến nhà T giao ma túy.

Ngoài ra bị cáo đã bán ma tuý cho Dương Tiến T tất cả 07 lần, cụ thể:

Khoảng 10 giờ, ngày 06/8/2021, T gọi cho bị cáo hỏi mua 01 gói ma tuý đá với số tiền 200.000 đồng, bị cáo đồng ý, sau đó T gặp bị cáo đưa số tiền 180.000 đồng và lấy từ bị cáo 01 gói ma túy đá (T còn nợ lại bị cáo 20.000 đồng). Trước đó vào ngày 01/8/2021, bị cáo có bán cho T 01 gói ma tuý đá với số tiền 150.000 đồng tại nhà của bị cáo ở Ấp NN, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Còn 05 lần khác bị cáo bán ma tuý cho T với số tiền từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng nhưng không nhớ rõ thời gian cụ thể, tại phiên tòa bị cáo và T đều thừa nhận trong 05 lần mua bán ma túy thì 04 lần bị cáo bán ma túy cho T với giá 150.000 đồng và 01 lần bán ma túy cho Thành với giá 200.000 đồng.

Như vậy, hành vi của bị cáo nêu trên có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 với tình tiết định khung là “phạm tội 02 lần trở lên”. Từ đó cho thấy bản cáo trạng số 36/CT – VKS – XM ngày 04 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện XM truy tố bị cáo Nguyễn Quốc D về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi và muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, là một trong những nguyên nhân là phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Về nhân thân bị cáo có nhân thân xấu từng bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” vào năm 2016, đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bày học sửa đổi bản thân, lại tiếp tục phạm tội, cho thấy bị cáo có ý thức xem thường pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, buộc bị cáo phải nộp số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) vào ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng vụ án:

+ Đối với 01 (một) phong bì đã được niêm phong có số ký hiệu vụ số: 459 ngày 09/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là ma túy còn lại sau giám định là hàng cấm, dùng vào việc mua bán ma túy không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số IMEI: 352877109798319 là của bàĐào Thị V, do bà V không biết bị cáo dùng để liên lạc mua, bán ma túy nên trả lại cho bà V.

+ Đối với 01 xe mô tô loại Dream màu nâu, không có biển kiểm soát, số máy: RPKFM1P52FMH – 00031640, số khung: RPKDCH2PKDH – 021640.40 bàĐào Thị V khai là xe của bà V mua lại vào năm 2014 với số tiền 3.000.000đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện XM truy tìm chủ sở hữu (người đứng tên trên giấy xe là Lê Út H, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Ấp PQ, xã HH, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) nhưng chưa có ai đến nhận, việc bị cáo mượn xe đi mua, bán ma túy bà V không biết nên Hội đồng xét xử xét trả lại xe cho bà V.

+ Tại phiên Tòa bị cáo và Dương Tiến T đều khai nhận trong 05 lần mua bán ma túy với số tiền từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng (nhưng không nhớ rõ thời gian) thì 04 lần bị cáo bán cho Thành với giá 150.000 đồng và 01 lần với giá 200.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định 07 lần bị cáo bán ma túy cho Thành thu lợi được số tiền 1.130.000 đồng, đây là tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có nhưng bị cáo đã tiêu xài hết, do đó buộc bị cáo phải nộp vào ngân sách Nhà nước.

Đối với nguồn gốc ma túy: Đối với đối tượng tên B là người bị cáo khai bán ma túy cho bị cáo và đối tượng tên Chó Con chưa xác định được nhân thân, nên Cơ quan cảnh sát điều tra huyện XM, tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

Đối với bà Đào Thị V là chủ sở hữu chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen. Qua làm việc bà V khai nhận ngày 01/9/2021, bà V để điện thoại trên bàn nên việc bị cáo tự ý lấy điện thoại của bà V gọi mua ma túy bà V không biết. Ngày 01/9/2021 bị cáo mượn xe mô tô của bà V để đi lấy đồ ăn nên bà đồng ý, việc bị cáo sử dụng xe mô tô của bà V để đi mua ma túy bà V hoàn toàn không biết, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện XM không xem xét xử lý là phù hợp.

Đối với Dương Tiến T, ngày 16/9/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện XM đã ra Quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Lê như T, ngày 11/11/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện XM đã ra Quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc D (Tí D) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Quốc D 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/10/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã được niêm phong có số ký hiệu vụ số: 459 ngày 09/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là ma túy còn lại sau giám định.

- Trả lại cho bà Đào Thị V:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số IMEI: 352877109798319.

+ 01 xe mô tô loại Dream màu nâu, không có biển kiểm soát, số máy: RPKFM1P52FMH – 00031640, số khung: RPKDCH2PKDH – 021640.40.

- Buộc bị cáo phải nộp số tiền 1.130.000đ (Một triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) vào ngân sách Nhà nước.

(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện XM đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/4/2022 giữa Công an huyện XM và Chi cục Thi hành án dân sự huyện XM).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Nguyễn Quốc D phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ