- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Định N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 54/2022/HS-ST Ngày 20 - 7 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Diên Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hương và ông Kim Ngọc Nguyên;
- Thư ký phiên tòa: Ông Lang Thanh Như, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Hoài Nam, Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo: Lê Định N, tên gọi khác: Không, sinh ngày 03 tháng 01 năm 2004, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản C, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V và bà Lộc Thị H; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03 tháng 4 năm 2022 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Tr, chức vụ: Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý chi nhánh số 2 - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh Nghệ An, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 30 phút, ngày 03/4/2022, Lê Định N từ nhà đi lên bản Mường Lống, xã Tri Lễ, huyện Quế Phong, để tìm mua ma tuý đem về sử dụng. Khi lên đến bản Mường Lống, xã Tri Lễ, Ninh gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua với người này được 01 gói Heroine và 02 viên ma tuý tổng hợp với giá 100.000đ. Mua được ma tuý Ninh lấy một ít Heroine và 01 viên ma tuý tổng hợp ra sử dụng, số Heroine và viên ma tuý tổng hợp còn lại N gói chung vào với nhau trong mảnh bao ni lông màu trắng cất giấu vào trong khẩu trang đang đeo ở mặt rồi đi bộ quay về. Đến 06 giờ 40 phút cùng ngày, N đang trên đường về đến khu vực bản Na Tỳ, xã Châu Thôn, huyện Quế Phong thì bị Tổ công tác Công an xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong khẩu trang của Lê Định N đang đeo ở mặt 01 gói ni lông màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma tuý Heroine) và 01 viên nén màu hồng (nghi là ma tuý Methamphetamine).
Kết luận giám định số: 433/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 08/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
“- Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lê Định N gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Viên nén màu hồng thu giữ của Lê Định N có khối lượng là 0,11 (Không phẩy mười một) gam;
- Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lê Định N gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Số chất bột màu trắng thu giữ của Lê Định N có khối lượng là 0,08 (Không phẩy không tám) gam”.
Bản cáo trạng số 53/CT-VKS-QP ngày 15/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố Lê Định N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội là đúng như trong bản cáo trạng đã công bố. Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đúng tội, không oan sai.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện Quế Phong vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Định N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Định N từ 12 đến 18 tháng tù. Và không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Về vật chứng: Áp dụng vào điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ mảnh bao ni lông màu trắng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được cho vào một phong bì thư bưu điện niêm phong dán kín của Lê Định N.
Người đàn ông bán ma túy cho Lê Định N (theo lời khai của Ninh) do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để xử lý.
Người bào chữa không tranh luận về tội danh và đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 01 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa Lê Định N thừa nhận vào hồi 06 giờ 40 phút, ngày 03/4/2022, tại khu vực bản Na Tỳ, xã Châu Thôn, huyện Quế Phong thì bị Tổ công tác Công an xã Hạnh Dịch phát hiện bắt quả tang bị cáo đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng. Vật chứng thu giữ là 0,08 gam (Heroine) và 0,11 gam (Methamphetamine). Tổng khối lượng của cả hai chất ma tuý là 0,19 (không phẩy mười chín) gam. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng như bản cáo trạng truy tố là đúng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai có tại hồ sơ, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định số 433/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 08/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An. Sự phù hợp thống nhất của các chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận Lê Định N đã Tàng trữ trái phép 0,19 (không phẩy mười chín) gam ma tuý nên phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy, cần xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo khai báo thành khẩn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đề nghị xử phạt bị cáo Lê Định N từ 12 đến 18 tháng tù. Người bào chữa đề nghị 01 năm tù. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp; người bào chữa là chưa hợp lý.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về vật chứng: Sau khi lấy hết số ma tuý đưa đi giám định chỉ còn lại còn lại mảnh bao ni lông màu trắng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được cho vào một phong bì thư bưu điện niêm phong dán kín của Lê Định N nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Lê Định N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt: Bị cáo Lê Định N 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 03 tháng 4 năm 2022.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ mảnh bao ni lông màu trắng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được cho vào một phong bì thư bưu điện niêm phong dán kín của Lê Định N.
(Đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện Quế Phong và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong ngày 13/6/2022).
Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Định N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Quế Phong; - Công an huyện Quế Phong; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - Trại giam Công an tỉnh Nghệ An; - Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS huyện Quế Phong; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Diên Tuấn |