- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội: "Tàngtrữ trái phépchất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2022/HS-ST Ngày: 05-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngư.
2. Ông Đinh Quốc Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 58/2022/HSST ngày 05 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn P – Sinh năm 1967. Tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm C, xã C1, huyện P1, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.
Con ông: Nguyễn Văn B – Sinh năm 1933 (đã chết) và bà Trần Thị T – Sinh năm 1939 (đã chết).
Gia đình bị cáo có 07 (bảy) anh chị em, bị cáo là con thứ 04 (tư).
Bị cáo có vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1971 và 02 (hai) con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1995.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Năm 2017 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong thời hạn 18 tháng. Nguyễn Văn P chấp hành xong ngày 20/12/2018.
Bị cáo bị bắt từ ngày 25/3/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Ngọc C2, sinh năm 1957; Địa chỉ: Xóm C, xã C1, huyện P1, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 09/3/2022, tại đoạn đường liên Xóm C, xã C1, huyện P1, tỉnh Thái Nguyên đi xóm Đ, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (đoạn gần nhà văn hóa Xóm C) thuộc địa phận Xóm C, xã C1, huyện P1, tỉnh Thái Nguyên, tổ công tác Công an xã C1 bắt quả tang Nguyễn Văn P có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của P 01 (một) gói giấy bạc, bên trong có 01 (một) gói chất bột màu trắng được bọc trong lớp nilon màu trắng. P khai nhận là ma túy loại heroin mua của một người đàn ông không quen biết khoảng 30 tuổi, tại khu vực ngã tư Q thuộc địa phận phường Q, thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên với giá 400.000₫ (Bốn trăm nghìn đồng), mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, niêm phong vật chứng trong bì niệm phong ký hiệu A.
Ngày 09/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của P và không thu giữ đồ vật tài liệu gì.
Cân xác định khối lượng, trọng lương số chất bột màu trắng thu giữ của P, được niêm phong trong bì ký hiệu A, có khối lượng là 0,327g (không phẩy ba hai bẩy gam). Lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (Ký hiệu A1).
Kết luận giám định số 474/KL-KTHS ngày 17/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine; có khối lượng là: 0,327 gam”. Hoàn lại đối tượng giám định theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định là 0,300 g (Không phẩy ba) gam và vỏ bao gói mẫu được niêm phong đúng quy định, ký hiệu A1.
Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận:
Bản thân bị cáo P là người nghiện ma túy. Khoảng 07 giờ ngày 09/3/2022, bị cáo đi bộ từ nhà ra Quốc lộ 37 bắt xe buýt xuống khu vực ngã tư Q thuộc địa phận phường Q, thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, bị cáo gặp một người đàn ông không quen biết, không rõ nhân thân lai lịch và mua 400.000₫ (bốn trăm nghìn đồng) được 01 (một) gói ma túy loại Heroine. Sau khi mua được ma túy, bị cáo bắt xe buýt đi về. Đến gần nhà, bị cáo xuống đi bộ đến gần nhà văn hóa Xóm C thuộc địa phận Xóm C, xã C1, huyện P1, tỉnh Thái Nguyên thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Bản cáo trạng số 62/CT-VKSPL ngày 04 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P khai nhận: Bản thân bị cáo nghiện ma túy (Heroine) từ năm 2009. Ngày 09/3/2022 bị cáo đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân, thì bị phát hiện thu giữ.
Vị Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tàngtrữtráiphép chấtmatúy”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 25/3/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật ký hiệu là A1 bên trong có 0,300 (không phẩy ba không không) gam ma túy loại Heroine và vỏ bao gói mẫu A1 hoàn trả sau giám định; 01 (một) bì niêm phong bên trong ký hiệu là A2, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A và vỏ giấy gói.
Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo bản án.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Tại phiên toà vắng mặt người chứng kiến, bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt người chứng kiến. Việc Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Về tội danh, điều luật truy tố: Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Như vậy, cóđủcơsởđể khẳngđịnh:
Bản thân bị cáo nghiện ma tuý (Heroine) từ năm 2009. Khoảng 07 giờ ngày 09/3/2022, bị cáo một mình xuống khu vực ngã tư Q thuộc địa phận phường Q, thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, bị cáo gặp một người đàn ông không quen biết, không rõ nhân thân lai lịch được 01 (một) gói giấy bạc, bên trong thì có 01 (một) gói chất bột màu trắng là ma túy loại heroine được gói trong lớp nilon màu trắng với số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng). Sau khi có được ma túy, bị cáo về đến gần nhà văn hóa Xóm C thuộc địa phận Xóm C, xã C1, huyện P1, tỉnh Thái Nguyên thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Cân xác định khối lượng, trọng lượng 01 (một) gói chất bột màu trắng đã thu giữ của bị cáo khi bắt quả tang có trọng lượng là 0,327 gam (không phẩy ba hai bảy gam), niêm phong lại và ký hiệu A1.
Kết luận giám định số 474/KL-KTHS ngày 17/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine; có khối lượng là: 0,327 gam”. Hoàn lại đối tượng giám định theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định là 0,300 g (Không phẩy ba) gam và vỏ bao gói mẫu được niêm phong đúng quy định, ký hiệu A1.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi đã thực hiện như lời khai trong quá trình điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
….
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Bản cáo trạng số 62/CT-VKSPL ngày 04 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên để xét xử là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, hành vi phạm tội: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng thực hiện với lỗi cố ý. Do đó, hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện, đi ngược lại công cuộc đấu tranh phòng chống ma túy của toàn xã hội, xâm phạm đến các điều cấm được Bộ luật hình sự bảo vệ. Hành vi đó phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2017 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong thời hạn 18 tháng.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Xét tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo thấy rằng cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian đủ dài. Nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.
Bản thân bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Nếu áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo sẽ không có tính khả thi. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu là A1 bên trong có 0,300 (không phẩy ba không không) gam ma túy loại Heroine và vỏ bao gói mẫu A1 hoàn trả sau giám định; 01 (một) bì niêm phong bên trong ký hiệu là A2, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A và vỏ giấy gói. Không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Cần buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai đã mua ma túy của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch (Không biết tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực ngã tư Q thuộc địa phận phường Q, thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên với giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng). Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ và xử lý sau.
Xét đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa. Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt tù đối với bị cáo, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo là phù hợp, đúng pháp luật và cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội: "Tàngtrữ trái phépchất ma túy".
1.Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 329 Bộ luật Tố tung hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 25 tháng 3 năm 2022).
Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05 tháng 8 năm 2022).
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu là A1 bên trong có 0,300 (không phẩy ba không không) gam ma túy loại Heroine và vỏ bao gói mẫu A1 hoàn trả sau giám định; 01 (một) bì niêm phong bên trong ký hiệu là A2, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A và vỏ giấy gói.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương với Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương ngày 11 tháng 7 năm 2022).
3. Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 135; 136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.
Bị cáo có tại phiên tòa. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Phú Lương; - CQCSĐT Công an huyện Phú Lương; - Chi cục THADS huyện Phú Lương; - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Nguyên; - Bị cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Lưu: Văn phòng, hồ sơ. | THẨM PHÁN HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Giang Hoàng Văn Giang |