- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn Lư tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------- Bản án số: 54/2022/HS-ST Ngày: 15-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Liên, ông Nguyễn Đắc Quýnh.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Đức - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyện - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xét xử công khai trực tuyến với Điểm cầu 1 - Hội trường xét xử, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương; Điểm cầu 2 – Nhà tạm giữ Công an huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2022/TLST-HS ngày 25/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2022/QĐXXST-HS ngày 04/11/2022, đối với bị cáo:
ĐINH VĂN L, sinh năm 1977. Nơi sinh, đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn PM, xã TC, huyện TM, tỉnh Hải Dương. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: ĐVN và bà PTT; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ là VTM, sinh năm 1979. Bị cáo có hai con sinh năm 1998 và 2005. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/9/2022 đến ngày 03/10/2022 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Bị cáo có mặt.
* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1986.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 30/9/2022, Đinh Văn L đang đứng ở cổng bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương thì gặp Cường (không rõ họ, năm sinh, nơi cư trú) là bạn quen ngoài xã hội. Cường rủ L đi chơi. L đồng ý. Cường chở L bằng xe máy của Cường sang địa bàn huyện Nam Sách. Trên đường đi, Cường rủ L góp tiền mua ma túy để sử dụng, L đồng ý và đưa cho Cường số tiền 200.000đồng. Cả hai đi đến khu vực cầu Mạc Thị Bưởi, khu Mạc Thị Bưởi, thị trấn Nam Sách, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, Cường dừng xe bảo L đứng đợi Cường đi mua ma túy. Một lát sau, Cường quay lại đưa cho L một vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có chứa 03 gói ma túy. Cường nói với L là Cường phải đi lấy điện thoại và bảo L chờ Cường quay lại. Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, lực Lợng Công an huyện Nam Sách kiểm tra, phát hiện bắt quả tang L đang cầm trên tay một vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 03 gói ma túy cùng kích thước (2x1)centimet được bọc bằng giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng. L khai đó là heroin, L cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Kết luận giám định số 528/KLGÐ-PC09 ngày 01/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong 03 gói giấy màu trắng được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định có tổng khối Lợng là 0,266gam, là ma túy, loại heroin.
Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKS-NS ngày 25/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương truy tố Đinh Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo L khai nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã nêu. Trước đây bị cáo có sử dụng ma túy loại heroin nên quen biết Cường cũng là người sử dụng heroin. Trưa ngày 30/9/2022, bị cáo cùng Cường đi từ thành phố Hải Dương sang huyện Nam Sách bằng xe mô tô của Cường. Cường rủ bị cáo mua ma túy sử dụng, bị cáo đồng ý và đưa cho Cường số tiền 200.000đồng để mua ma túy. Cường đi mua heroin của ai, ở đâu bị cáo không biết. Sau đó, Cường đưa cho bị cáo một vỏ bao thuốc lá Thăng Long, trong có 03 gói ma túy. Cường nói phải đi lấy điện thoại và bảo bị chờ. Sau đó, bị cáo bị công an phát hiện đang cầm trên tay vỏ bao thuốc lá Thắng Long, trong có 03 gói ma túy. Bị cáo không thắc mắc đối với kết luận giám định. Bị cáo biết bị cáo đã vi phạm pháp luật. Bị cáo không bị oan.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Văn L từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 528/KLGĐ-PC09 của Phòng PC09 Công an tỉnh Hải Dương, bên trong có 0,214gam ma túy, lọai heroin hoàn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long; 01 phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 03 mảnh giấy màu trắng. Về án phí: buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự
* Lời nói sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Sách, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu được và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, thể hiện diễn biến nội dung vụ việc và hành vi của bị cáo như sau: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 30/9/2022, tại khu vực đường thuộc khu Mạc Thị Bưởi, thị trấn Nam Sách, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, Đinh Văn L có hành vi cất giấu tại tay trái 0,266gam ma túy loại heroin với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực Lợng Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Bị cáo L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi cất giấu trái phép 0,266gam ma túy loại heroin để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Đinh Văn L là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý các chất ma túy. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy còn là mầm mống làm phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng đến an toàn công cộng. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 528/KLGĐ-PC09 của Phòng PC09 Công an tỉnh Hải Dương, bên trong có 0,214gam ma túy, loại heroin; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng; 03 mảnh giấy màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định là những vật chứng có liên quan đến tội phạm không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
[8] Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo L khai bị cáo đưa cho một người tên Cường (không rõ họ, năm sinh và địa chỉ) số tiền 200.000đồng để mua 03 gói ma túy. Cường mua được ma túy và đưa cho L. Cơ quan điều tra không xác định được người tên Cường như L khai nên không có căn cứ xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
3. Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn L 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/9/2022.
4. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 528/KLGĐ-PC09 của Phòng PC09 Công an tỉnh Hải Dương, bên trong có 0,214gam ma túy, loại heroin; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng; 03 mảnh giấy màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định.
(Đặc điểm của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Sách với Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Sách)
5. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đinh Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND huyện Nam Sách; - Nhà tạm giữ CA huyện Nam Sách; - CQCSĐT công an huyện Nam Sách; - CQTHAHS-công an huyện Nam Sách; - CCTHADS huyện Nam Sách; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu VP Các Hội thẩm nhân dân Trịnh Thị Ngọc Trần Thị Luận | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thúy Hằng HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Thúy Hằng |