- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Kiều Đ (Phạm tội Đánh bạc) - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị Kiều Đ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2022/HS-PT Ngày 12 - 7 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kiều Anh
Các Thẩm phán:
Ông Châu Văn Mỹ
Ông Trần Quang Khang
- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Trấn Thanh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Triệu Ngọc Nhi, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 47/2022/TLPT-HS ngày 25 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thị Kiều Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2022/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện HD, tỉnh BL.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị Kiều Đ, sinh năm 1989 tại huyện HD, tỉnh BL. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Ấp NC, xã NQ A, huyện HD, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha là Nguyễn Văn E, sinh năm 1947 và mẹ là Nguyễn Thị D, sinh năm 1953; có chồng tên Trương Văn H, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và có 01 người con, sinh năm 2007; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 07/01/2021, Công an xã NQ A, huyện HD xử phạt 1.500.000đ về hành vi đánh bạc. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 50 phút ngày 12/5/2021, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện HD bắt quả tang bị cáo Nguyễn Thị Kiều Đ và các đối tượng Nguyễn Tuấn E, Nguyễn Thị A, Nguyễn Hoàng M, Dương Thị Hồng T, Phan Thanh Thúy A, Trần Trường Gi, Trần Văn L và Nguyễn Hoàng Th đang có mặt tại nơi đánh bài thắng thua bằng tiền, ở quán nước trước nhà của Nguyễn Minh Ch thuộc ấp CĐ, xã VL, huyện HD, tỉnh BL. Số tiền dùng để đánh bạc là 2.720.000 đồng, cụ thể: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều Đ 600.000 đồng; Nguyễn Tuấn E 1.050.000 đồng; Phan Thanh Thúy A 500.000 đồng; Dương Thị Hồng T 300.000 đồng; Nguyễn Thị A 120.000 đồng; Trần Văn L 50.000 đồng; Nguyễn Minh Đ 100.000 đồng là có diễn ra trên thực tế.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2022/HS-ST ngày 15/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện HD, tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kiều Đ, phạm tội Đánh bạc.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kiều Đ 05 (năm) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/3/2022 bị cáo Nguyễn Thị Kiều Đ kháng cáo xin hưởng án treo. Lý do: Đang nuôi mẹ già và con còn nhỏ. Tại phiên tòa bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của bị cáo còn trong thời hạn luật định nên cấp phúc thẩm chấp nhận và đưa ra xét xử là hợp lệ.
Về nội dung: Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, nội dung kháng cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2022/HS-ST ngày 15/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện HD, tỉnh BL.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức và thời hạn nên được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Kiều Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 11 giờ 50 phút ngày 12/5/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện HD bắt quả tang bị cáo Nguyễn Thị Kiều Đ và các đối tượng khác đang có mặt tại nơi đánh bài thắng thua bằng tiền, ở quán nước trước nhà của Nguyễn Minh Ch thuộc ấp CĐ, xã VL, huyện HD, tỉnh BL. Số tiền dùng để đánh bạc là 2.720.000 đồng, cụ thể: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều Đ 600.000 đồng; Nguyễn Tuấn E 1.050.000 đồng; Phan Thanh Thúy A 500.000 đồng; Dương Thị Hồng T 300.000 đồng; Nguyễn Thị A 120.000 đồng; Trần Văn L 50.000 đồng; Nguyễn Minh Đ 100.000 đồng.
[2.2] Hành vi đánh bạc trái phép nhằm thắng thua bằng tiền của bị cáo Đ và các đối tượng nêu trên tuy số tiền dùng vào việc đánh bạc chưa đến 5.000.000 đồng, nhưng bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc ngày 07/01/2021 nên lần đánh bạc trái phép này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị Kiều Đ phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[2.3] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị Kiều Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an tại địa phương, là nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý để răn đe và phòng ngừa chung. Bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính ngày 07/01/2021 nhưng đến ngày 12/5/2021, bị cáo bị bắt quả tang về hành vi đánh bạc, điều này thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém. Mặt khác, cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cấp sơ thẩm áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức khởi điểm của khung hình phạt là có xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không phát sinh thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng.
Khi quyết định hình phạt cho bị cáo, án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để xử phạt 05 tháng tù dưới mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp, tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo mà chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2022/HS-ST ngày 15/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện HD, tỉnh Bạc Liêu không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị Kiều Đ. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2022/HS-ST ngày 15/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện HD, tỉnh Bạc Liêu.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kiều Đ phạm tội “Đánh bạc”.
3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kiều Đ 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
5. Về án phí: Căn cứ các Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kiều Đ phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
6. Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2022/HS-ST ngày 15/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện HD, tỉnh Bạc Liêu không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bạc Liêu (02 bản); - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bạc Liêu (01 bản); - VKSND H. HD (01 bản); - TAND H. HD (02 bản); - CQĐT H. HD (01 bản); - Chi cục THADS H. HD (01 bản); - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu (1 bản); - Bị cáo (01 bản); - Lưu: HS, THS, THCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên bà đóng dấu) Huỳnh Thị Kiều Anh |