- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29 – 6 - 2022. V/v: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thúy Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thái Văn Bê;
2. Bà Trần Vĩnh Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Vũ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ.
Ngày 29 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 73/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 299/2022/QĐXX-ST ngày 31 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm T, sinh năm: 1991. Có mặt.
Địa chỉ: khu vực Hòa An, phường T, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ
2. Bị đơn: Anh Nguyễn V, sinh năm: 1988. Vắng mặt.
Địa chỉ: khu vực Thới Hưng, phường T, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
3. Người có quyền và lợi ích được bảo vệ: Nguyễn T, sinh ngày 25/4/2012 – hiện đang sinh sống cùng mẹ (chị H).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/02/2022 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Phạm T trình bày:
Chị và anh Nguyễn V tự nguyện tìm hiểu tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký K hôn năm 2011.
Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau một con chung tên Nguyễn T, sinh ngày 25/4/2012. Sau đó, bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh K thường xuyên đi nhậu, không quan tâm vợ con, từ đó vợ chồng cự cãi, đánh đập. Nay tình cảm thật sự không còn, mâu thuẫn không hàn gắn được nên chị yêu cầu được ly hôn. Về con chung, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: không có, nên không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn V đã được triệu tập hợp lệ hòa giải nhiều lần, cụ thể: ngày 20/4/2022 và ngày 13/5/2022 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, vụ án không thể tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào K quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị H và anh K tự nguyện chung sống, có đăng ký K hôn. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn và chị H có đơn khởi kiện, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh K đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do, cụ thể: ngày 20/6/2022và ngày 29/6/2022. Căn cứ theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
. Xét quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy đăng kí K hôn số 81, ngày 28/7/2011 của Ủy ban nhân dân phường T, nên xác định hôn nhân giữa chị H và anh K là hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, tình cảm không còn.
Theo chị H, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh K thường xuyên nhậu, không quan tâm vợ con, tình cảm vợ chồng hiện không còn.
Đối với bị đơn anh K, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để đoàn tụ và tham gia hòa giải, nhưng anh K vẫn cố tình vắng mặt. Bên cạnh đó, theo chị H trình bày: anh K có biết về việc chị gửi đơn xin ly hôn và có biết các lần thông báo, triệu tập của Tòa án nhưng anh K không có ý kiến gì và cũng không muốn đến Tòa (do hiện chị đang làm chung công ty với anh K).
Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh K là có thật.
Do đó, tình trạng vợ chồng giữa anh K, chị H đã thật sự rạn nứt, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Về tài sản và nợ chung: Ghi nhận ý kiến của nguyên đơn chị H về việc không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác (nếu có yêu cầu).
. Về con chung: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn chị H thì thời gian chung sống có 01 con chung tên Nguyễn T, sinh ngày 25/4/2012. Điều này phù hợp với giấy khai sinh cháu Đoàn. Nên có cơ sở xác định là con chung của anh K, chị H.
Xét yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung của nguyên đơn chị H, căn cứ tờ ghi nhận ý kiến của cháu Đoàn ngày 14/02/2022 thể hiện “….bản thân con được mẹ nuôi dưỡng và chăm sóc, nếu cha mẹ con ly hôn, con xin được sống cùng mẹ, vì được mẹ chăm sóc và bảo vệ rất tốt….”. Đồng thời, hiện cháu Đoàn đang sinh sống, đi học, ở cùng chị H và do chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, yêu cầu này của chị H là phù hợp theo qui định tại khoản 1 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, tại khoản 2 Điều 81 quy định “…Nếu con trên 07 tuổi thì phải xem xét nguyện vọng của con…”.
Từ những phân tích viện dẫn trên là cơ sở quyết định: Tiếp tục giao con chung tên Nguyễn T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân & gia đình: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 227, 228, 264 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân & gia đình năm 2014;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm T về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn với bị đơn anh Nguyễn V.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Mỹ H được ly hôn với anh Nguyễn V.
[2]. Về con chung: Tiếp tục giao một con chung tên Nguyễn T (nam), sinh ngày 25/4/2012 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh K, không ai được quyền cản trở khi anh thực hiện quyền này.
[3]. Về cấp dưỡng: không yêu cầu.
[4]. Về tài sản và nợ chung: Ghi nhận ý kiến của nguyên đơn về việc không có, không yêu cầu giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác (nếu có yêu cầu).
[5]. Về án phí hôn nhân và gia đình: 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nguyên đơn chị H phải chịu, khấu trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002366 ngày 14 tháng 3 năm 2022 thành án phí phải chịu.
Đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án niêm yết. Để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND Q.BT; - Chi Cục THADS Q.BT; - TAND TP.CT; - UBND xã, phường nơi ĐKKH; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phan Thúy Nguyên |