- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bình - Chuong"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2022/HNGĐ-ST Ngày 01/4/2022 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Duy Viễn và ông Phạm Tiến Hào.
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thảo Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiếm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 01/4/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 270/2021/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 10 năm 2021, về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02/3/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 10/2022/QĐST-HNGĐ ngày 17/3/2022, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1988
- Bị đơn: Anh Hà Văn C, sinh năm 1988.
Cùng địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
(Chị B có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Văn C tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, khi kết hôn có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn ngày 18/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Yên Lập, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống chung cùng gia đình nhà anh C được thời gian ngắn, sau đó chị và anh C chuyển đến làm ăn, sinh sống tại Thôn X, xã T, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, hòa thuận B thường, đến đầu năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do tính tình hai bên không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm, lối sống. Chị và anh C sống ly thân từ tháng 4 năm 2020 đến nay. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn tình cảm với nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Văn C.
Về con chung: Chị và anh C không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, về nợ chung: Chị và anh C không có tài sản chung gì, không vay nợ ai cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành gửi giấy triệu tập nhưng anh C không đến Tòa án tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương được biết, hiện anh C vắng mặt tại nơi cư trú nên Tòa án đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các tài liệu khác tại địa phương nơi anh C cư trú để anh C đến Tòa án giải quyết vụ án, nhưng anh C đều vắng mặt và cũng không nộp cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, chị B có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải. Do vậy, Tòa án không tiến hành phiên hòa giải và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện: Chị Nguyễn Thị B và anh Hà Văn C là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn vào ngày 18/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Yên Lập, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn vợ chồng chị B, anh C sống chung cùng gia đình nhà anh C được thời gian ngắn, sau đó chuyển đến làm ăn, sinh sống tại Thôn X, xã T, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu vợ chồng chị B, anh C sống hạnh phúc, hòa thuận B thường, đến đầu năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do tính tình hai bên không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm, lối sống. Chị B và anh C sống ly thân từ tháng 4 năm 2020 đến nay, hiện vợ chồng chị B, anh C không còn tồn tại một gia đình, hạnh phúc, tiến bộ, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung, vợ chồng chị B, anh C không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng chị B, anh C địa phương không nắm được. Về hộ khẩu thường trú, chị B và anh C đều có hộ khẩu thường trú tại Thôn X, xã T, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Hiện nay anh C đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nhà, khi đi làm ăn anh C không thông báo tạm trú, tạm vắng nên gia đình và địa phương không biết hiện anh C đang làm gì, ở đâu.
Chị B có đơn xin xét xử vắng mặt, chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến như đã trình bày, về quan hệ hôn nhân, chị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho chị được ly hôn với anh Hà Văn C. Về con chung, chị và anh C không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung, chị B xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Hà Văn C. Về con chung, chị B và anh C không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung, chị B xác nhận không có không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí, chị Nguyễn Thị B phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả làm việc tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị B và anh Hà Văn C là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hà Văn C có hộ khẩu thường trú tại Thôn X, xã T, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang nên chị B khởi kiện xin ly hôn với anh C là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình xác minh, thu thập chứng cứ với chính quyền địa phương được biết, anh C có hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại Thôn X, xã T, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Địa phương cho biết, anh C có biết việc chị B khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn nhưng anh C không đến Tòa án để giải quyết. Anh C đi làm ăn ở xa nhưng không báo địa chỉ mới nên Công an, địa phương cũng như gia đình không nắm được. Tòa án đã gửi giấy triệu tập và tiến hành niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại địa phương nơi anh C cư trú để anh C đến Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, anh C không đến Toà án giải quyết vụ việc, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải anh C vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không nộp các văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, và các chứng cứ kèm theo. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Hà Văn C.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B và anh Hà Văn C đăng ký kết hôn vào ngày 18/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Yên Lập, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, như vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chị B, anh C sống chung cùng gia đình nhà anh C được thời gian ngắn, sau đó chuyển đến làm ăn, sinh sống tại Thôn X, xã T, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, hòa thuận B thường, đến đầu năm 2020 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do tính tình hai bên không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm, lối sống. Chị B và anh C sống ly thân từ tháng 4 năm 2020 đến nay, nên không còn tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ, mục đích hôn nhân không đạt được. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng về quan hệ hôn nhân của chị B và anh C mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu xin ly hôn của chị B là có căn cứ, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị B. Xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Hà Văn C là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị B và anh Hà Văn C không có con chung.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị B xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị B phải nộp án phí theo theo quy định tại điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị đơn không phải chịu án phí.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Hà Văn C.
2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị B phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003834, ngày 08 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Chị Nguyễn Thị B đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị B và anh Hà Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND huyện Yên Sơn;
- Chi cục THADS huyện Yên Sơn;
- UBND xã Yên Lập, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (Nơi ĐKKH);
- Các đương sự;
Nguyễn Thị Thu Hà -Lưu hồ sơ;
- Lưu.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Văn Ngọc - Lộc Thị Kim Thơm
Nguyễn Xuân Thủy
| Nơi nhận - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Sơn Dương; - THADS huyện Sơn Dương; - UBND xã Sơn Nam; - Các đương sự; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Xuân Thủy |