- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Anh Vũ Xuân C; Bị đơn: Chị Vương Thị Y"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2022/HNGĐ-ST Ngày 18-7-2022 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Vượng.
2. Ông Ma Quốc Thể.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Trí – Kiểm sát viên.
Ngày 18/7/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 52/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Vũ Xuân C – Sinh năm: 1998.
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Chị Vương Thị Y – Sinh năm: 1995.
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Vắng mặt (Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn anh Vũ Xuân C có quan điểm trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh C và chị Y trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau. Anh và chị Y chung sống với nhau từ năm 2017 và có đăng ký kết hôn ngày 15 tháng 5 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm về lối sống và trong làm ăn kinh tế. Từ năm 2019, chị Y đi làm, từ đó tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Vợ chồng anh C, chị Y đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Anh C xét thấy tình cảm của vợ, chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục nữa nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Y ly hôn với nhau để mỗi người có một cuộc sống riêng.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh C và chị Y có 01 con chung.
Cháu Vũ Ngọc M – Sinh ngày: 19/6/2017.
Năm 2019, chị Y đi làm ăn xa không quan tâm gì đến con, cháu M sống cùng anh C và ông, bà nội từ khi còn nhỏ cho đến nay. Anh C có quan điểm sau khi ly hôn, sẽ nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu M đến khi cháu M trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Về phần cấp dưỡng nuôi con: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ: Anh Vũ Xuân C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Toà án đã tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành các bước theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập và niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ đối với chị Vương Thị Y nhiều lần nhưng chị Y không đến Tòa án để làm việc. Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương. Qua xác minh cho thấy, chị Vương Thị Y là công dân có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn, chị Y và anh C chung sống với nhau tại tổ dân phố Q, thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Mâu thuẫn gia đình chị Mùi, anh Toàn là bất đồng quan điểm sống và trong chuyện làm ăn kinh tế. Năm 2019, chị Y đi làm ăn, sinh sống ở nơi khác, không quay lại gia đình nhà anh C. Chị Y hiện tại đang đi làm xa, không có mặt tại địa phương, thỉnh thoảng mới về thăm nhà.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm.
Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang về việc giải quyết vụ án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” của anh Vũ Xuân C đối với chị Vương Thị Y.
2. Về quan hệ hôn nhân: Xử anh Vũ Xuân C và chị Vương Thị Y ly hôn.
3. Về con chung: Giao cháu Vũ Ngọc M – Sinh ngày: 19/6/2017 cho anh Vũ Xuân C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, kể từ ngày 18/7/2022.
Chị Vương Thị Y không trực tiếp nuôi con, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.
Về phần cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên không đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét, giải quyết.
5. Về án phí; Quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết.
- Về quan hệ tranh chấp: Anh Vũ Xuân C và chị Vương Thị Y là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên anh Vũ Xuân C khởi kiện về việc xin ly hôn với chị Vương Thị Y và giải quyết về con chung. Do vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết: Do đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn chị Vương Thị Y đều có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Đ, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Xuân C và chị Vương Thị Y xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo đúng các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 15/5/2018 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân với nhau. Lý do mâu thuẫn là do vợ, chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong việc làm ăn kinh tế, vợ chồng không hòa thuận, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Chị Y đi làm ăn xa, ít khi về nhà nên không quan tâm đến cuộc sống gia đình, chồng con. Anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn.
HĐXX thấy rằng, thực tế tình trạng hôn nhân giữa anh C và chị Y cuộc sống chung vợ chồng không hòa hợp, mâu thuẫn đã kéo dài, không thể khắc phục được nữa, vợ chồng ly thân với nhau đã lâu nhưng anh C và chị Y cũng không thể hòa giải, hàn gắn để quay về chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh C với chị Y là có căn cứ.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh C và chị Y có 01 con chung.
Cháu Vũ Ngọc M – Sinh ngày: 19/6/2017.
Anh Vũ Xuân C có nguyện vọng, sẽ nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu M.
HĐXX nhận thấy: Cháu Vũ Ngọc M đang ở độ tuổi rất cần sự quan tâm, giáo dục một cách thường xuyên của cha, mẹ để đảm bảo sự phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần, sức khỏe và nhân cách. Anh C có nơi cư trú rõ ràng. Từ khi vợ chồng ly thân với nhau, cháu M ở cùng với anh C, anh C vẫn đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung ăn học đầy đủ nên đảm bảo được về thời gian, điều kiện sinh hoạt, học tập cho cháu M. Ngoài ra, chị Y đi làm ăn xa, thường xuyên không có mặt tại địa phương nên không thể đảm bảo chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M được.
Từ những phân tích trên, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận nguyện vọng của anh Vũ Xuân C về việc nuôi con chung. Giao cháu Vũ Ngọc M cho anh Vũ Xuân C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu M trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Chị Vương Thị Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về phần cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Anh Vũ Xuân C là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 3 Điều 81; Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” của anh Vũ Xuân C đối với chị Vương Thị Y.
2. Về quan hệ hôn nhân: Xử anh Vũ Xuân C và chị Vương Thị Y ly hôn.
3. Về con chung: Giao cháu Vũ Ngọc M – Sinh ngày: 19/6/2017 cho anh Vũ Xuân C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, kể từ ngày 18/7/2022.
Chị Vương Thị Y không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.
4. Về án phí: Anh Vũ Xuân C phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lai số: AA/2021/0001957 ngày 01 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (Anh Vũ Xuân C đã nộp đủ tiền án phí).
5. Quyền kháng cáo: Anh Vũ Xuân C và chị Vương Thị Y có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Sơn Dương; - TAND tỉnh Tuyên Quang; - Chi cục THADS huyện Sơn Dương; - Ủy ban nhân dân thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang; - Lưu hồ sơ vụ án, lưu vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Cường |