- Tranh chấp gì? "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn Nh phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN ND HUYỆN V TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2021/HS-ST Ngày 10/8/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn T.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn K.
Ông Đào Văn K.
Thư ký phiên toà: Ông Đào Quang Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên toà: Ông Bùi Xuân N - Kiểm sát viên.
Ngày 10/8/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 45/2021/HSST ngày 05/7/2021 theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số 51/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2021 đối với Bị cáo:
Vi Văn Nh - Sinh năm: 1999; HKTT: Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Thái; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Vi Văn H và bà: Vi Thị H; gia đình có 03 anh, em, Nh là thứ hai; Vợ: Lang Thị Á; Có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Nh bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2021. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nh: Bà Vương Thị Thanh N, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vi Văn Nh là đối tượng nghiện ma túy loại Hêroin hiện đang thuê ở nhà trọ của gia đình anh Phùng Văn Q ở thôn M, thị trấn N, huyện V và làm bốc vác thuê. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 09/4/2021 Nh bắt xe khách từ V, Hưng Yên đến khu công nghiệp Y, tỉnh B để mua ma túy về sử dụng, Nh mua 500.000đ ma túy Hêroin của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) thì được người đàn ông này đưa 01 túi nilon màu xanh, miệng dạng bấm, bên ngoài có chữ (Đệ nhất thuốc lào Xuân Hân) bên trong túi đựng 16 gói nhựa màu trắng, các gói đều có 2 đầu hàn kín, trong các gói đều chứa các chất màu trắng dạng cục và bột cất vào túi quần đang mặc sau đó ra bắt xe khách về thôn M, thị trấn N, huyện V. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày khi Nh về đến khu trọ thì bị Công an huyện V đang kiểm tra hành chính khu trọ phát hiện tay trái của Nh đang cầm túi nilon màu xanh, miệng dạng bấm, Nh tự khai bên trong túi là ma túy (Hêroin). Công an huyện V đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ: Thu tại tay trái của Nh 01 túi nilon màu xanh, miệng dạng bấm, bên ngoài có chữ (Đệ nhất thuốc lào Xuân Hân) bên trong túi đựng 16 gói nhựa màu trắng, các gói đều có 2 đầu hàn kín, trong các gói đều chứa các chất màu trắng dạng cục và bột nghi là ma túy Hêroin được đưa vào bì thư dán kín và niêm phong theo quy định, được ký hiệu M1.
Cùng ngày 09/4/2021 Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp tại phòng trọ của Nh nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu có liên quan.
Ngày 09/4/2021, Cơ quan CSĐT – Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định đối với các chất đã thu giữ trong niêm phong số M1 nêu trên. Bản thông báo kết luận sơ bộ số 102/MT- PC09 ngày 09/4/2021 và Kết luận giám định 102/MT- PC09 ngày 12/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, công an tỉnh H kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi M1, có tổng khối lượng là 0,339g (không phẩy ba ba chín gam), là ma túy, loại Hêroin.
Kết quả xét nghiệm mẫu nước tiểu của Nh ngày 09/04/2021 cho kết quả dương tính với Hêroin.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Vi Văn Nh ngày 09/04/2021 hiện Cơ quan điều tra không làm rõ được nhân thân, lai lịch, không có căn cứ để xử lý.
Quá trình điều tra Vi Văn Nh đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 50/CT - VKS ngày 05/7/2021 của VKSND huyện V truy tố bị cáo Vi Văn Nh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Nh khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố là đúng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo Nh bà Vương Thị Thanh N có ý kiến: Qua nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ và tình tiết của vụ án, Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo Nh về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, tuy nhiên đối với bị cáo Nh là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Để thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số đề nghị HĐXX áp dụng thêm cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xét xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất, giúp bị cáo cải tạo tốt sớm trở thành công dân có ích cho xã hội và căn cứ vào điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Quan điểm của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện V đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bị cáo Vi Văn Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vi Văn Nh từ 2 năm đến 2 năm 3 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/4/2021.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại mẫu vật giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Vi Văn Nh tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời phù hợp với vật chứng thu giữ của bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 09/4/2021 tại khu nhà trọ của gia đình anh Phùng Văn Q ở thôn M, thị trấn N, huyện V. Vi Văn Nh là đối tượng nghiện ma túy đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,339g (không phẩy ba ba chín gam) ma túy, loại Hêroin để sử dụng thì bị Cơ quan CSĐT, Công an huyện V phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của chất ma túy và xuất phát từ việc coi thường pháp luật nên đã tàng trữ trái phép 0,339g Hêroin để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang là vi phạm pháp luật. Do đó VKSND huyện Văn Lâm truy tố bị cáo Vi Văn Nh về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý được luật hình sự bảo vệ, gây ra hậu quả xấu cho xã hội, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Do đó việc xử lý bị cáo bằng một bản án thật nghiêm khắc là cần thiết.
. Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Sau khi cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện, sống có ích cho xã hội, đồng thời cũng có tác dụng dăn đe giáo dục phòng ngừa tội phạm chung.
. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nghề nghiệp không ổn định, mắc nghiện ma túy, gia đình kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 phong bì niêm phong mẫu vật số 102/MT – PC09 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên là vật chứng liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu cho tiêu hủy.
. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Bị cáo Nh là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tê đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn Nh phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Vi Văn Nh 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/4/2021.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mẫu vật số 102/MT – PC09 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên.
Về án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh H; - VKSND huyện V; - Công an huyện V; - Chi cục T.H.A dân sự huyện V; - Những người tham gia tố tụng ; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Văn Trung |