- Tranh chấp gì? án hình sự — "249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Đức N (Tên gọi khác: Ngưng) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2021/HSST Ngày 12/5/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Minh Khôi.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Trúc Mai và ông Nguyễn Cửu Hưng.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hoàng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 49/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2021, đối với bị cáo:
Hoàng Đức N (Tên gọi khác: Ngưng), sinh năm 1996 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố Q, phường Đông G, thành phố ĐH, tỉnh QT; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Thợ c t tóc; con ông Hoàng Đức T, sinh N 1954 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1954; gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị b t tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2020 cho đến nay - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30/12/2020, Hoàng Đức N cùng với Lê Minh T (Trú tại khu phố N, Phường K, thị xã QT) và Nguyễn Thị Xuân D (Trú tại khu phố L, Phường H, thị xã QT) đến thuê phòng số 205 nhà nghỉ Bảo H thuộc khu phố N, Phường X, thành phố ĐH để nghỉ ngơi. Sau khi thuê phòng 205, D, T vào nằm ngủ, còn N đi bộ đến khu vực chợ đêm thuộc khu phố 5, Phường 2, thành phố Đông Hà gặp nam thanh niên tên L (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua được 03 viên ma túy với giá 120.000 đồng. Sau khi có được ma túy, N quay về phòng 205 thì thấy D và T vẫn đang ngủ nên N lấy ma túy ra sử dụng một mình. N sử dụng hết 01 viên, còn 02 viên chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an thành phố Đông Hà kiểm tra, phát hiện, b t quả tang thu giữ gồm: 02 viên nén hình tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M.
Tại bản kết luận giám định số: 81/KLGĐ ngày 05/01/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh QT kết luận: 02 viên nén màu hồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M gửi đến giám định có khối lượng 0,1984 gam là ma túy loại Methamphetamine.
Cáo trạng số: 48/CT-VKSĐH ngày 14/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐH, tỉnh QT truy tố bị cáo Hoàng Đức N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐH giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Đức N từ 12 đến 13 tháng tù.
- Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu PS3A 057982 và 01 vỏ chai nhựa cao 20cm có đục lỗ ở thân chai.
Bị cáo Hoàng Đức N trình bày lời nói sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật, nay xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về đoàn tụ với gia định và làm người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố ĐH, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐH, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Đức N đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản b t người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, xét thấy đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30/12/2020, sau khi mua được 03 viên ma túy của 01 nam thanh niên tên L (không rõ lai lịch, địa chỉ) tại khu vực chợ đêm thuộc khu phố N, phường H, thành phố Đông Hà với giá 120.000 đồng thì bị cáo N đã có hành vi đưa số ma túy mua được về phong số 205 nhà nghỉ Bảo H tàng trữ để nhằm mục đích sử dụng, tại đây N vừa sử dụng hết một viên, còn lại 02 viên chưa kịp sử dụng thì bị Công an Thành phố ĐH b t quả tang, thu giữ gồm 02 viên nén hình tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY có khối lượng 0,1984 gam, là ma túy loại loại Methamphetamine. Do đó hành vi của bị cáo N đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Ma túy hiện đang là một trong những tệ nạn bức xúc nhất của xã hội, gây tác hại rất nhiều mặt đến đời sống kinh tế và xã hội, gây nên sự bất an trong xã hội, làm mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến đời sống của quần chúng nhân dân sống trên địa bàn. Vì vậy, cần đưa vụ án ra xét xử kịp thời và xử phạt nghiêm kh c đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Công an thành phố ĐH tạm giữ gồm: Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu PS3A 057982 và 01 vỏ chai nhựa cao 20 cm có đục lỗ ở thân chai. Xét thấy đây là công cụ phương tiện liên quan đến việc sử dụng ma túy và vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Đức N (Tên gọi khác: Ngưng) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Đức N 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị b t tạm giữ 30/12/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu PS3A 057982, bên ngoài có hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh QT và chữ ký của những người tham gia niêm phong và 01 vỏ chai nhựa cao 20 cm có đục lỗ ở thân chai.
Vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố ĐH, tỉnh QT theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/5/2021 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐH và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố ĐH, tỉnh QT.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Đức N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Q.Trị; - VKSND TP Đông Hà; - Công an TP Đông Hà; - Thi hành án Hình sự; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị; - Chi cục THADS TP Đông Hà; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Minh Khôi |