vanban.org

Bản án 54/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Tuyên án 02/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lữ Minh Đ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2021/HSST
Ngày 02-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Việt Thắng.

Ông Huỳnh Văn Năm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Ngân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dần - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2021 và Thông báo dời ngày mở phiên tòa số: 09/TB-TA ngày 28 tháng 10 năm 2021, đối với bị cáo:

Lữ Minh Đ, sinh năm 1995 tại Cà Mau; Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ Văn D và bà Nguyễn Thị C; vợ và con chưa có; tiền sự: Không, tiền án: 01, ngày 10/4/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/9/2019 (chưa được xóa án tích); nhân thân: Xấu, đã từng phạm tội và bị xử phạt tù nhưng chưa xóa án tích; bị bắt ngày 03/8/2021 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt).

- Người làm chứng:

Ông Lâm Văn T, sinh năm 1959. (Vắng mặt).

Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969. (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Khóm 4, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 03/8/2021, Lực lượng Công an huyện T và Công an thị trấn S tuần tra trên tuyến lộ Bờ Nam thuộc thị trấn S, khi đến đoạn lộ thuộc khóm 4, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau thì phát hiện Lữ Minh Đ đang ngồi trên xe máy nhãn hiệu SUZUKI, màu đỏ đen, số loại SATRIA, biển số đăng ký 69N1-659.33 và tiến hành kiểm tra thì phát hiện trên người Lữ Minh Đ trong túi áo khoác màu đen bên phải của Đ đang mặc trên người có gói thuốc lá hiệu Seven Diamond (thuốc 7 hột xoàn), kiểm tra bên trong phát hiện 01 bịch nylon được hàn kín bên trong có tinh thể màu trắng, Đ khai nhận là ma túy đá. Sau đó lực lượng Công an tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ tang vật niêm phong.

Vật chứng thu giữ: Ngày 03/8/2021 lực lượng công an thu giữ 01 gói nylon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá được bỏ vào túi niêm phong mã số PS3 2031213 đượn dán kín lại và có chữ ký xác nhận và họ tên của Lữ Minh Đ (sau giám định hoàn lại 01 phong bì hoàn mẫu số: 187/GĐH-PC09 ngày 09/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín có chữ ký, chữ viết họ tên giám định viên Trần Anh K, người chứng kiến Nguyễn Trường T (bên trong có 0,3573 gam tinh thể màu trắng, túi niêm phong ký hiệu PS3 mã số PS3 2031213, bọc nylon màu trắng dùng để gói tinh thể màu trắng))); 01 xe máy hiệu SATRIA màu đỏ đen, biển số đăng ký 69N1-659.33; 01 điện thoại bàn phím hiệu NOKIA màu đỏ đen (đã qua sử dụng) có bàn phím có gắn sim số 0946194940; 01 điện thoại cảm ứng hiệu SAMSUNG màu xanh đen (đã qua sử dụng) có gắn sim số 0816233693; nhiều bịch nylon màu trắng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 gói thuốc hiệu Seven Diamond (thuốc 7 hột xoàn). (Các vật chứng hiện nay Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời đang quản lý).

Tại kết luận giám định số: 187/GĐH-PC09 ngày 09/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong gói nylon màu trắng được hàn kín, niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 2031213 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5309 gam loại Methamphetamine.

Từ những nội dung trên bản cáo trạng số: 67/CT-VKS ngày 20 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà May truy tố bị cáo Lữ Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội theo như bản cáo trạng truy tố, bị cáo khai ngày 03/8/2021, tại tuyến lộ Bờ Nam thuộc đoạn lộ thuộc khóm 4, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau thì bị lực lượng công an tiến hành kiểm tra bị cáo lúc bị cáo đang ngồi trên xe máy nhãn hiệu SUZUKI, màu đỏ đen, số loại SATRIA, biển số đăng ký 69N1-659.33 thì phát hiện bên trong túi áo khoác màu đen bên phải của bị cáo đang mặc trên người có gói thuốc lá hiệu Seven Diamond (thuốc 7 hột xoàn), kiểm tra bên trong phát hiện 01 bịch nylon được hàn kín bên trong có tinh thể màu trắng, bị cáo xác định là ma túy đá và lực lượng công an lập biên bản phạm tội quả tang rồi niêm phong và thu giữ tang vật. Số ma túy thu giữ qua giám định có khối lượng 0,5309 gam loại Methamphetamine bị cáo thống nhất không có ý kiến. Ngoài ra, bị cáo còn khai số ma túy đá lực lượng công an kiểm tra phát hiện trên người bị cáo là của đối tượng Nguyễn Tú T đưa cho bị cáo để sử dụng; đối với các tang vật thu giữ gồm có xe máy, điện thoại, sim điện thoại và các tang vật khác là của bị cáo, bị cáo yêu cầu được nhận lại xe máy, điện thoại và sim điện thoại; bác ruột của bị cáo tên Lữ Văn H là liệt sĩ.

Đối với Nguyễn Tú T quá trình điều tra và đối chất với bị cáo, đối tượng T khai số ma túy thu giữ trên người bị cáo Đ ở đâu Đ có thì T không biết và T không có đưa ma túy cho Đ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lữ Minh Đ và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt đối với bị cáo Lữ Minh Đ mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu số: 187/GĐH-PC09 ngày 09/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín có chữ ký, chữ viết họ tên giám định viên Trần Anh K, người chứng kiến Nguyễn Trường T, nhiều bịch nylon màu trắng, 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, 01 gói thuốc hiệu Seven Diamond (thuốc 7 hột xoàn); trả cho bị cáo 01 xe máy nhãn hiệu SUZUKI, màu đỏ đen, số loại SATRIA, biển số đăng ký 69N1-659.33; 01 điện thoại bàn phím hiệu NOKIA màu đỏ đen (đã qua sử dụng) có bàn phím có gắn sim số 0946194940; 01 điện thoại cảm ứng hiệu SAMSUNG màu xanh đen (đã qua sử dụng) có gắn sim số 0816233693.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đối với các người làm chứng ông Lâm Văn T, bà Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt ông T và bà H không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, nên Hội đồng quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận khoảng 15 giờ ngày 03/8/2021 tại tuyến lộ Bờ Nam đoạn lộ thuộc khóm 4, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau khi bị cáo đang ngồi trên xe thì bị lực lượng công an kiểm tra trên người bị cáo phát hiện trong túi áo khoác màu đen bên phải của bị cáo đang mặc trên người có gói thuốc lá hiệu Seven Diamond (thuốc 7 hột xoàn), kiểm tra bên trong phát hiện 01 bịch nylon được hàn kín bên trong có tinh thể màu trắng là ma túy đá. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Tại kết luận giám định số: 187/GĐH-PC09 ngày 09/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong gói nylon màu trắng được hàn kín, niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 2031213 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5309 gam loại Methamphetamine bị cáo thống nhất và không có ý kiến đối với kết luận giám định. Việc phạm tội của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp, do cần ma túy để sử dụng nên bị cáo đã cất giấu số ma túy (bị cáo khai do T đưa) vào bên trong túi áo khoác màu đen bên phải của bị cáo đang mặc thì bị phát hiện; trước, trong và sau khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Từ những phân tích, lập luận, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Lữ Minh Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, bị cáo biết được chất ma túy là chất cấm tàng trữ và chịu sự độc quyền quản lý của Nhà nước, và hậu quả của việc sau khi sử dụng trái phép chất ma túy là vô cùng nguy hiểm cho xã hội và sức khỏe của bản thân bị cáo, việc sử dụng trái phép chất ma túy là mầm móng cho các loại tội phạm khác có thể xảy ra. Nhưng vì muốn sử dụng trái phép chất ma túy để thỏa mãn thú vui cho bản thân mà bị cáo đã sẵn sàng cất giấu chất ma túy (bị cáo khai do T đưa) vào bên trong túi áo khoác màu đen bên phải của bị cáo đang mặc để nhằm mục đích sử dụng. Tình hình tội phạm về ma túy hiện nay ngày càng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp trong cả nước nói chung và trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nói riêng; để đảm bảo công tác đấu tranh và phòng chống có hiệu quả đối với các loại tội phạm (trong đó có tội phạm về ma túy), nên cần xử lý nghiêm đối với hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm mục đích giáo dục và răn đe chung cho toàn xã hội. Ngoài ra, khi xem xét mức hình phạt đối với bị cáo thì Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng bị cáo không có tiền sự, nhưng có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chấp hành xong hình chưa được xóa án tích nhưng lại phạm tội mới với lỗi cố ý nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để lượng hình phạt đối với hành vi của bị cáo; ngoài ra bị cáo còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã bị công an huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 466/QĐ-XPVPHC ngày 20/8/2021 nên cần xem xét tình tiết này để lượng hình đối với bị cáo; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bác ruột bị cáo là liệt sĩ nhưng không thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử không áp dụng đối với bị cáo.

Từ các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần chấp nhận và cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo và sửa đổi bản thân để trở thành một người công dân tốt cho gia đình và xã hội khi tái hòa nhập lại với cộng đồng.

Đối với việc bị cáo khai số ma túy thu giữ trên người bị cáo là do Nguyễn Tú T đưa, nhưng qua điều tra làm việc với T và đối chất giữa bị cáo với T thì chưa có căn cứ để chứng minh số ma túy là do T đưa cho bị cáo. Do đó, đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trần Văn Thời tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của Nguyễn Tú T nếu có căn cứ thì xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Đối với 01 phong bì hoàn mẫu số: 187/GĐH-PC09 ngày 09/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín có chữ ký, chữ viết họ tên giám định viên Trần Anh K, người chứng kiến Nguyễn Trường T, nhiều bịch nylon màu trắng, 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, 01 gói thuốc hiệu Seven Diamond (thuốc 7 hột xoàn) không có giá trị và không sử dụng được nên cần tịch thu và tiêu hủy là đúng;

+ Đối với 01 xe máy nhãn hiệu SUZUKI, màu đỏ đen, số loại SATRIA, biển số đăng ký 69N1-659.33; 01 điện thoại bàn phím hiệu NOKIA màu đỏ đen (đã qua sử dụng) có bàn phím có gắn sim số 0946194940; 01 điện thoại cảm ứng hiệu SAMSUNG màu xanh đen (đã qua sử dụng) có gắn sim số 0816233693. Xét thấy các tang vật này là tài sản hợp pháp của bị cáo và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp;

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: bị cáo Lữ Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lữ Minh Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 03/8/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu số: 187/GĐH-PC09 ngày 09/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín có chữ ký, chữ viết họ tên giám định viên Trần Anh K, người chứng kiến Nguyễn Trường T, nhiều bịch nylon màu trắng, 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, 01 gói thuốc hiệu Seven Diamond (thuốc 7 hột xoàn);

+ Trả cho bị cáo Lữ Minh Đ 01 xe máy nhãn hiệu SUZUKI, màu đỏ đen, số loại SATRIA, biển số đăng ký 69N1-659.33; 01 điện thoại bàn phím hiệu NOKIA màu đỏ đen (đã qua sử dụng) có bàn phím có gắn sim số 0946194940; 01 điện thoại cảm ứng hiệu SAMSUNG màu xanh đen (đã qua sử dụng) có gắn sim số 0816233693;

(Các vật chứng hiện nay Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/9/2021).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lữ Minh Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân.

Cỡ chữ