vanban.org

Bản án 54/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sông Công, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 15/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 290; Các Điều 106, 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Các bị cáo Lương Văn A, Phan Xuân T và Phan Quý H phạm tội “Đánh bạc”. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 290; Các Điều 106, 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/ 2021/ HS - ST
Ngày: 15 - 9 - 2021

NHÂN DA

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đình Rồng

Ông Trần Quốc Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Xuân Trà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/ 2021/ TLST - HS ngày 06 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/ 2021/ QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Lƣơng Văn A, sinh ngày 08/11/1997, tại: huyện Hương Sơn – tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 5, xã Sơn Trường, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: Tổ dân phố Khu Yên, phường Bách Quang, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 12/12; giới tính: Nam. Con ông: Lương Văn Bồng và bà: Nguyễn Thị Huyền; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: ngày 01/3/2021, bị cáo A bị Công an phường Bách Quang, thành phố Sông Công xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; hiện đang được tại ngoại (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Phan Xuân T, sinh ngày 06/8/1989, tại: huyện Cẩm Xuyên – tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Tân Thuận, xã Cẩm Thịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Phan Xuân Cán và bà: Võ Thị Học; bị cáo có vợ là: Nguyễn Thị OA - sinh năm 1990, có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo không bị tạm giữ , tạm giam; hiện đang được tại ngoại (Có mặt).

3. Phan Quý H, sinh ngày 01/12/1986, tại: huyện Hương Sơn – tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Hùng Tiến, xã Sơn Tiến, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: Tổ dân phố Khu Yên, phường Bách Quang, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông : Phan Mạnh Luân (đã chết) và bà : Nguyễn Thị Lập; bị cáo chưa có vợ , con. Tiền án, tiền sự : không. Bị cáo không bị tạm giữ , tạm giam; hiện đang được tại ngoại (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người chứng kiến: A Dương Thành Q, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ dân phố Khu Yên, phường Bách Quang, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lương Văn A và Phan Xuân T và Phan Quý H làm công nhân tại khu Công nghiệp Sông Công II, cùng thuê nhà trọ tại Tổ dân phố Khu Yên, phường Bách Quang, thành phố Sông Công. Trong quá trình ở cùng nhau A nói chuyện với T và H, đặt vấn đề đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với T và H thì cả hai đồng ý và hướng dẫn A cách thức nhắn tin với T, H để mua số lô, số đề qua tin nhắn điện thoại. Khi nhận được tin nhắn, T và H sẽ nhắn tin là “OK” để xác nhận đã đồng ý. Khi A nhắn tin mua số lô thì sẽ ghi “Lô” và các số cần mua, mua số đề thì sẽ ghi chữ “Đề” và các số cần mua cùng với số tiền muốn mua. Mỗi tin nhắn là một lần giao dịch đánh bạc. Sau khi nhắn tin thì đến cuối ngày sẽ đọ với kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc được mở vào ngày mua số lô, số đề. Số đề sẽ đọ với hai số cuối của giải đặc biệt. Số lô sẽ đọ với hai số cuối của 27 giải. Mỗi điểm lô mua với giá trị là 20.000 đồng, nếu trúng thưởng sẽ được 70.000 đồng, nếu kết quả số lô về 02 hoặc 03 lần trong các giải của kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày thì H phải trả A số tiền của số lô đã mua mà về 02 hoặc 03 lần. Về số đề, nếu A mua 1.000 đồng (ký hiệu, 1k), khi trúng thưởng thì H phải trả A 70.000 đồng, sau khi so với kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày thì sẽ tính tiền thua, thắng trong ngày, nếu A thua bạc nợ tiền thì H nhắn tin cho A là “Âm và số tiền nợ” nếu A thắng bạc thì H nhắn cho A là “Du và số tiền thắng” là H nợ tiền đánh bạc của A. Số đề ba số (ba càng) nếu đánh 1.000 đồng trúng thì được 350.000 đông. Lô “xiên hai” là chọn 02 số bất kỳ trong 27 giải của Xổ số kiển thiết Miền Bắc, thì 1.000 đồng nếu trúng thưởng sẽ được trả 10.000 đồng, lô xiên 3 thì 1.000 đồng, trúng thưởng được trả 40.000 đồng. Lô xiên 4 thì 1.000 đồng trúng thưởng được trả 100.000 đồng. T, H là người trực tiếp nhận và trả tiền cho A. So với kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày, nếu Lương Văn A trúng thì T và H sẽ phải trả tiền trúng thưởng cho A, nếu thua thì ngược lại. Trong khoảng thời gian từ 05/12/12/2020 đến ngày 11/12/2020, T và Lương Văn A đã đánh bạc với nhau 07 lần (cả 07 lần số tiền đánh bạc đều trên 5.000.000 đồng); trong thời gian từ ngày 26/8/2020 đến 25/12/2020, Lương Văn A đã đánh bạc với Phan Quý H 29 lần, trong đó ngày 03/10/2020 số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng, các lần còn lại mỗi ngày đều dưới 5.000.000 đồng. Cụ thể:

Đối với hành vi đánh bạc của Lương Văn A với Phan Xuân T, theo nội dung tại Biên bản làm việc ngày 19/02/2021 (thành phần có Điều tra viên và cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, các bị cáo Phan Xuân T và Lương Văn A (bút lục 66 - 68) xác định:

1. Ngày 05/12/2020: Số đề đầu 9 (gồm 10 số từ 90 đến 99) mỗi số x 20.000 đồng, số đề 36 x 100.000 đồng, số 94,99,78 mỗi số x 30.000 đồng. Tổng là 390.000 đồng. Số lô: 60, 61, 62, 68, 69, 91, 92, 94, 98, 99 mỗi số x 20 điểm. Tổng là 200 điểm lô x 20.000 đồng /01 điểm = 4.000.000 đồng. Số đề 03 càng (ba số): 778; 236 mỗi số x 50.000 đồng. Số lô xiên 04 gồm các số: 10; 36; 53; 79 x 100.000 đồng. Đọ kết quả Xổ số miền Bắc mở thưởng ngày 05/12/2020 xác định Lương Văn A không trúng số đề nào, trúng các số lô 60 ở giải tư, số 68 ở giải ba, số 91 ở giải tư, số 92 ở giải ba, số 99 ở giải năm. Tổng số số điểm lô trúng thưởng là 100 điểm x 70.000 đồng / 01 điểm = 7.000.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc ngày 05/12/2020 của A, T là: (490.000 đồng + 4.100.000 đồng + 7.000.000 đồng) = 11.590.000 đồng. Số tiền thu lời bất chính trong ngày 05/12/2020 của A do đánh bạc với T là 2.410.000 đồng.

2. Ngày 06/12/2020: Số đề đầu 9 (gồm 10 số từ 90 đến 99) mỗi số x 20.000 đồng; số đề 86, 63, 94, 98 mỗi số x 30.000 đồng. Tổng là 320.000 đồng. Số lô: 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 69, 94, 98, 81 mỗi số x 20 điểm; số 86 x 50 điểm. Tổng là 250 điểm lô x 20.000 đồng/ 01 điểm = 5.000.000 đồng. Số lô xiên 4 gồm các số: 86; 98; 63; 81 x 100.000 đồng. Đọ kết quả sổ xố miền Bắc mở thưởng ngày 06/12/2020 xác định A không trúng số đề nào, trúng các số lô 61 ở giải nhì, số 68 ở giải tư. Tổng số số điểm lô trúng thưởng là 40 điểm x 70.000 đồng/ 01 điểm = 2.800.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc ngày 06/12/2020 của A, T là: (320.000 đồng + 5.100.000 đồng + 2.80.000 đồng) = 8.220.000 đồng. Số tiền thu lời bất chính trong ngày 05/12/2020 của T do đánh bạc với A là 2.620.000 đồng.

3. Ngày 07/12/2020: Số đề 25, 65, 85, 95, 75 mỗi số x 50.000 đồng, số đề 65 x 50.000 đồng. Tổng là 300.000 đồng. Số lô: 62; 63; 64; 65; 66; 98; 97; 94 mỗi số x 20 điểm, số lô 86 x 50 điểm. Tổng là 210 điểm lô x 20.000 đồng/ 01 điểm = 4.200.000 đồng. Đọ kết quả sổ xố miền Bắc mở thưởng ngày 07/12/2020 xác định A không trúng số đề nào, trúng các số lô 63 ở giải sáu, số 97 ở giải năm. Tổng số số điểm lô trúng thưởng là 40 điểm x 70.000 đồng /01 điểm = 2.800.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc ngày 07/12/2020 của A, T là: (300.000 đồng + 4.200.000 đồng + 2.800.000 đồng) = 7.300.000 đồng. Số tiền thu lời bất chính trong ngày 07/12/2020 của T do đánh bạc với A là 1.700.000 đồng.

4. Ngày 08/12/2020: Số đề 18, 81 mỗi số x 50.000 đồng. Tổng là 100.000 đồng. Số lô: 64, 62, 65, 66, 90, 91, 93, 94, 98 mỗi số x 20 điểm. Tổng là 180 điểm lô x 20.000 đồng/ 01 điểm = 3.600.000 đồng. Đọ kết quả sổ xố miền Bắc mở thưởng ngày 08/12/2020 xác định A không trúng số đề nào, trúng số lô 98 ở giải nhất. Tổng số số điểm lô trúng thưởng là 20 điểm x 70.000 đồng / 01 điểm = 1.400.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc ngày 08/12/2020 của A, T là: (100.000 đồng + 3.600.000 đồng + 1.40.000 đồng) = 5.100.000 đồng. Số tiền thu lời bất chính trong ngày 08/12/2020 của T do đánh bạc với A là 2.300.000 đồng.

5. Ngày 09/12/2020: Số đề 64; 65; 93; 94; 91 mỗi số x 20.000 đồng. Tổng là 100.000 đồng. Số lô: 90; 91; 93; 94; 96; 99; 62; 64; 65; 66; 67 mỗi số x 20 điểm. Tổng là 220 điểm lô x 20.000 đồng / 01 điểm = 4.400.000 đồng. Đọ kết quả sổ xố miền Bắc mở thưởng ngày 09/12/2020 xác định A không trúng số đề nào, trúng số lô 90 ở giải sáu. Tổng số số điểm lô trúng thưởng là 20 điểm x 70.000 đồng/ 01 điểm = 1.400.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc ngày 09/12/2020 của A, T là: (100.000 đồng + 4.400.000 đồng + 1.40.000 đồng) = 5.900.000 đồng. Số tiền thu lời bất chính trong ngày 09/12/2020 của T do đánh bạc với A là 3.100.000 đồng.

6. Ngày 10/12/2020: Số đề 94 x 100.000 đồng; số 93; 95; 96 mỗi số x 30.000 đồng. Tổng là 190.000 đồng. Số lô: 91; 93; 95; 96; 62; 64; 65 mỗi số x 20 điểm. Tổng là 140 điểm lô x 20.000 đồng/ 01 điểm = 2.800.000 đồng. Đọ kết quả sổ xố miền Bắc mở thưởng ngày 10/12/2020 xác định A không trúng số đề nào, trúng số lô 91 ở giải bẩy, số lô 94 ở giải năm, số lô 62 ở giải tư. Tổng số số điểm lô trúng thưởng là 60 điểm x 70.000 đồng/ 01 điểm = 4.200.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc ngày 10/12/2020 của A, T là: (190.000 đồng + 2.800.000 đồng + 4.200.000 đồng) = 7.190.000 đồng. Số tiền thu lời bất chính trong ngày 10/12/2020 của A do đánh bạc với T là 1.210.000 đồng.

7. Ngày 11/12/2020: Số đề 63; 64; 65; 69; 93 mỗi số x 20.000 đồng. Tổng là 100.000 đồng. Số lô: 93; 95; 97; 98; 99; 63; 64; 65; 67; 69 mỗi số x 20 điểm. Tổng là 200 điểm lô x 20.000 đồng/ 01 điểm = 4.000.000 đồng. Đọ kết quả sổ xố miền Bắc mở thưởng ngày 11/12/2020 xác định A không trúng số đề nào, trúng số lô 95 ở giải tư. Tổng số số điểm lô trúng thưởng là 20 điểm x 70.000 đồng/ 01 điểm = 1.400.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc ngày 11/12/2020 của A, T là: (100.000 đồng + 4.000.000 đồng + 1.400.000 đồng) = 5.500.000 đồng. Số tiền thu lời bất chính trong ngày 10/12/2020 của T do đánh bạc với A là 2.700.000 đồng.

Đối với hành vi đánh bạc giữa Lương Văn A với Phan Quý H, theo nội dung tại Biên bản làm việc ngày 22/4/2021 (thành phần có Điều tra viên và cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, các bị cáo Lương Văn A và Phan Quý H (bút lục 66 - 68), xác định: Ngày 03/10/2020: Số đề 73; 96; 97; 98; 65 mỗi số x 20.000 đồng; số đề đầu 9 (bao gồm 10 số từ 90 – 99) mỗi số x 20.000 đồng. Tổng là 300.000 đồng. Số lô: 97; 64; 46 mỗi số x 20 điểm, tổng là 60 điểm lô x 20.000đ/ 01 điểm = 1.200.000 đồng. Mua lô xiên 3 số gồm các số 97; 64; 46 x 50.000 đồng. Đọ kết quả sổ xố miền Bắc mở thưởng ngày 03/10/2020 xác định A trúng số đề 97 x 20.000 đồng = 1.400.000 đồng, trúng đề 97 (trong 10 số đầu 9) x 20.000 đồng = 1.400.000 đồng, trúng số lô 97 ở giải năm và giải đặc biệt x 40 điểm = 2.800.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 03/10/2020 của A, H là (300.000 đồng + 1.250.000 đồng + 5.600.000 đồng) = 7.150.000 đồng. Số tiền thu lời bất chính trong ngày 03/10/2020 của A do đánh bạc với H là 4.050.000 đồng.

Ngoài ra, 28 lần còn lại, Lương Văn A đã đánh bạc với Phan Quý H mỗi ngày số tiền đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng.

Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng của A đang sử dụng thấy trong phần tin nhắn điện thoại có nhiều tin nhắn liên quan đến hành vi mua bán số lô, số đề từ ngày 05/12/2020 đến 22/12/2020 với số điện thoại 0972.873.120 được lưu tên dA bạ là “CK A T CX”. Ngoài ra tại phần mềm ứng dụng mạng xã hội Zalo và Messenger còn có tin nhắn liên quan đến hành vi mua bán số lô, số đề với Phan Quý H và một người tên Huân (A khai không biết rõ và địa chỉ cụ thể).

Ngày 10/6/2021, Phan Quý H đã giao nộp số tiền 5.800.000 đồng, Phan Xuân T giao nộp số tiền 8.800.000 đồng là số tiền các bị cáo hưởng lợi từ hành vi đánh bạc với Lương Văn A (bút lục 80 - 81).

Vật chứng của vụ án gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Galaxy J7 Prime, lắp sim thuê bao số 0763. 013.900, niêm phong trong phong bì ký hiệu D; 01 thẻ sim của nhà mạng Viettel số thuê bao 0972.873.120 trên thẻ sim có dãy số 89840488410003987 niêm phong trong phong bì ký hiệu G; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, lắp thẻ sim số thuê bao 0398.554.266 đã được chuyển, bảo quản theo quy định về quản lý vật chứng. Đối với số tiền 14.600.000 thu giữ của Phan Quý H và Phan Xuân T hiện đã được gửi tại Kho bạc nhà nước thành phố Sông Công (bút lục 304 - 310).

Quá trình điều tra, các bị cáo Lương Văn A, Phan Xuân T, Phan Quý H đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc của các bị cáo như đã nêu ở trên (bút lục 208 – 260, 264 - 280).

Tại bản cáo trạng số 49/ CT – VKS ngày 29/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Lương Văn A, Phan Xuân T, Phan Quý H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lương Văn A, Phan Quý H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị cáo Phan Xuân T giữ nguyên lời khai đã khai tại giai đoạn điều tra. Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội dA và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lương Văn A, Phan Xuân T, Phan Quý H phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo A từ 15 đến 18 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T từ 12 đến 15 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H từ 09 đến 12 tháng tù; áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung mỗi bị cáo 10.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước. Về vật chứng, đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước 02 chiếc điện thoại đã thu giữ của các bị cáo A, T; tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 8.800.000 đồng thu giữ của bị cáo H và số tiền 5.800.000 đồng thu giữ của bị cáo T là khoản tiền các bị cáo thu lời bất chính từ việc đánh bạc trái phép, tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim điện thoại nhà mạng Viettel số thuê bao 0972.873.120. Về án phí, buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo T không có ý kiến trA luận, bị cáo nói lời sau cùng, xin được giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt các bị cáo Lương Văn A và Phan Quý H, các bị cáo A, H đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tòa án quyết định xét xử vắng mặt đối với hai bị cáo Lương Văn A và Phan Quý H.

Về nội dung vụ án: Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, các bị cáo Phan Xuân T, Lương Văn A và Phan Quý H đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người chứng kiến là A Lương Thành Q; phù hợp với nội dung Biên bản làm việc ngày 19/02/2021, ngày 22/4/2021 và ảnh chụp màn hình điện thoại; các biên bản kết quả xổ số miền Bắc do Công ty TNHH Một thành viên Sổ số kiến thiết Thái Nguyên cung cấp; sổ hạch toán chi tiết T khoản ngày 15/4/2021 của MB... và các T liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận, trên địa bàn phường Bách Quang, thành phố Sông Công: Từ ngày 05/12/ đến 11/12/2020, Lương Văn A và Phan Xuân T đã có 07 lần đánh bạc trái phép với nhau bằng hình thức mua bán số lô số đề: Ngày 05/12/2020 đánh bạc với tổng số tiền 11.590.000 đồng, ngày 06/12/2020 đánh bạc với tổng số tiền 8.220.000 đồng, ngày 07/12/2020 đánh bạc với tổng số tiền 7.300.000 đồng, ngày 08/12/2020 đánh bạc với tổng số tiền 5.100.000 đồng, ngày 09/12/2020 đánh bạc với tổng số tiền 5.900.000 đồng, ngày 10/12/2020 đánh bạc với tổng số tiền 7.190.000 đồng, ngày 11/12/2020 đánh bạc với tổng số tiền là 5.500.000 đồng. Ngày 03/10/2020, Lương Văn A và Phan Quý H đánh bạc trái phép với nhau bằng hình thức mua bán số lô, số đề với tổng số tiền đánh bạc là 7.150.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Lương Văn A, Phan Xuân T và Phan Quý H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật giá trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.

..

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Trong vụ án này, theo bị cáo A khai còn có người tên “Trần Huân” là người đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với A, nhưng do A không biết chính xác họ tên, tuổi, địa chỉ của người này nên không đủ căn cứ xác minh, làm rõ.

Ngoài lần phạm tội nêu trên, các bị cáo Lương Văn A và Phan Quý H còn nhiều lần đánh bạc trái phép với nhau, những lần đánh bạc đó đều dưới 5.000.000 đồng, không cấu thành tội phạm. Tòa án chuyển lại bản sao hồ sơ liên quan, đề nghị Công an thành phố Sông Công xem xét ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về những lần đánh bạc trái phép này của A và H theo thẩm quyền.

Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội; vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

3.1. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.

3.2. Về nhân thân: Các bị cáo đều sinh ra, lớn lên tại địa phương, cơ bản được gia đình nuôi ăn học đầy đủ (A học hết lớp 12/12, T và H hết lớp 9/12), sau đó đi làm lao động tự do. Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên về nhân thân bị cáo A tháng 3/2021 bị Công an phường Bách Quang, thành phố Sông Công xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền về hành vi “Đánh bạc”, ngoài ra trong khoảng thời gian từ ngày 26/8/2020 đến 25/12/2020, A và H còn có 28 lần đánh bạc trái phép với nhau (tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng) chưa bị Cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm.

3.3. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong vụ án này, cả ba bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, ngoài ra đối với bị cáo H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51, bị cáo T là con của người có công với nước (bố bị cáo được thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất) được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo A, T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào (mặc dù các bị cáo A, T hơn 05 lần thực hiện hành vi đánh bạc trái phép, nhưng các bị cáo không lấy tiền do đánh bạc mà có làm nguần sống chính, nên không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” đối với các bị cáo).

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Mặc dù tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Các bị cáo A, T nhiều lần phạm tội, bị cáo A và H ngoài các lần phạm tội bị truy tố còn có 28 lần đánh bạc trái phép chưa bị xử lý. Nên cần phải xét xử các bị cáo bằng hình phạt tù, buộc các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc đến tính chất hành vi phạm tôi, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để xét xử từng bị cáo mức án phạt tù phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án này, các bị cáo nhiều lần đánh bạc trái phép với mục đích thu lời bất chính, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải phạt bổ sung các bị cáo một khoản tiền quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự theo đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Về vật chứng và đồ vật liên quan trong vụ án: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime, lắp thẻ sim số thuê bao 0763. 013.900 và điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, lắp thẻ sim số thuê bao 0398.554.226 các bị cáo sử dụng để đánh bạc trái phép là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội; Số tiền 8.800.000 đồng thu giữ của bị cáo H và số tiền 5.800.000 đồng thu giữ của bị cáo T là khoản tiền các bị cáo thu lời bất chính từ việc đánh bạc trái phép, cần được tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

01 thẻ sim điện thoại nhà mạng Viettel số thuê bao 0972.873.120 trên thẻ sim có dãy số 8984048841000103987 không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án, nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Lương Văn A, Phan Xuân T và Phan Quý H được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 290; Các Điều 106, 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Luật Phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Lương Văn A, Phan Xuân T và Phan Quý H phạm tội “Đánh bạc”.

1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

1.1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lương Văn A 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

1.2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Xuân T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

1.3. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phan Quý H 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

* Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự;

Phạt bổ sung các bị cáo Lương Văn A, Phan Xuân T và Phan Quý H, mỗi bị cáo 10.000.000 sung công quỹ Nhà nước.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy: 01 thẻ sim điện thoại nhà mạng Viettel số thuê bao 0972.873.120 trên thẻ sim có dãy số 8984048841000103987 (đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu G).

* Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

- Số tiền 8.800.000 đồng thu giữ của Phan Quý H, số tiền 5.800.000 đồng thu giữ của Phan Xuân T hiện đang được gửi tại Kho bạc Nhà nước thành phố Sông Công.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime, lắp thẻ sim số thuê bao 0763. 013.900 (đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu D).

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, lắp thẻ sim số thuê bao 0398.554.226.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, T sản ngày 27/ 8/2021 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công; tiền hiện đang được gửi, bảo quản tại Kho bạc thành phố Sông Công theo biên bản giao nhận T sản ngày 08/7/ 2021 giữa Công an và Kho bạc Nhà nước Sông Công thuộc Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên (được niêm phong trong: Gói niêm phong ký hiệu (A) bằng bì thư, gói còn nguyên niêm phong, mặt sau có 03 dấu đỏ của Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, chữ ký ghi rõ họ tên của 03 người tham gia niêm phong La Thành Chung, Nguyễn Thị Hiên, Phan Xuân T, mặt trước ngoài gói ghi số tiền 8.800.000 đồng, xẩy ra tại phường Bách Quang, thành phố Sông Công từ ngày 05/12/2020 đến ngày 11/12/2020, niêm phong ngày 24/3/2021 và Gói niêm phong ký hiệu (B) bằng bì thư, gói còn nguyên niêm phong, mặt sau có 03 dấu đỏ của Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, chữ ký ghi rõ họ tên của 03 người tham gia niêm phong La Thành Chung, Lương Văn A và Phan Quý H, mặt trước ngoài gói ghi 5.800.000 đồng, vụ đánh bạc xẩy ra ngày 03/10/2020 và từ ngày 05/12/2020 đến 11/12/2020 niêm phong ngày 10/6/2021).

3. Về án phí: Buộc các bị cáo Lương Văn A, Phan Xuân T và Phan Quý H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo Phan Xuân T; vắng mặt các bị cáo Lương Văn A và Phan Quý H.

Báo cho bị cáo T biết, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; các bị cáo A, H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ