- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A Ph phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A Ph phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2021/HS-ST. Ngày: 10 - 5- 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mùi Văn Huấn
Bà Trần Thị Thu Thủy
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Phương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2021/TLST- ST ngày 14 tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2021/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 4 năm 2021, đối với bị cáo.
Giàng A Ph, tên gọi khác, không, sinh năm 1962, sinh tại huyện V, tỉnh Sơn La. Trú tại: Bản C, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La. Giới tính: Nam, tôn giáo không, Quốc tịch Việt Nam. Dân tộc: Mông; trình độ văn hoá: Không biết chữ; nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông: Giàng A S (đã chết) và bà Sồng Thị Ch (đã chết); bị cáo có vợ là Sồng Thị G, sinh năm 1972, bị cáo có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 2009.
Tiền án: Ngày 30/11/2018, Tòa án nhân dân huyện V xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong án phí HSST ngày 20/2/2019, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/02/2020 (Chưa được xóa án tích); tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 05/02/2008, UBND huyện Mộc Ch, tỉnh Sơn La quyết định đưa đi cai nghiện tại Trung tâm giáo dục – lao động tỉnh Sơn La thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 11/12/2010 (đã hết thời gian tính tiền sự).
- Ngày 01/3/2013, UBND huyện Mộc Ch, tỉnh Sơn La quyết định đưa đi cai nghiện tại Trung tâm giáo dục – lao động tỉnh Sơn La thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 26/03/2015 (đã hết thời gian tính tiền sự).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 23 tháng 2 năm 2021 tại Nhà tạm giữ Công an huyện V cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 23/02/2021 khi Giàng A Ph đi trên đường quốc lộ 6 thuộc bản C, xã L, huyện V để lấy củi khô thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 40 tuổi không quen biết, Ph hỏi mua được của người đó 22 viên hồng phiến đựng trong một lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu vàng với giá 400.000 đồng. Ph cầm lọ nhựa đựng hồng phiến rồi tiếp tục đi lấy củi. Đến 14 giờ cùng ngày, Ph về đến nhà và lấy lọ hồng phiến ra xem thì có tổ công tác công an huyện V kiểm tra, phát hiện Ph đang cầm lọ nhựa đựng hồng phiến trên tay. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Giàng A Ph đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V để điều tra làm rõ.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện V, Viện kiểm sát nhân dân huyện V và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành kiểm đếm và cân tịnh xác định khối lượng số viên nén màu hồng của Giàng A Ph, khối lượng 22 viên nén màu hồng được 2,17 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,52 làm mẫu giám định ký hiệu P. Mẫu giám định ký hiệu P gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy, khối lượng ma túy.
Kết luận giám đinh số 510 ngày 26/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:“Mẫu gửi giám đinh ký hiệu P là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,52 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,17 gam loại Methamphetamine.
Cáo trạng số: 24/CT-VKS ngày 14/4/2021 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Giàng A Ph về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như cáo trạng; qua phân tích đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Giàng A Ph phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A Ph mức án từ 30 (ba mươi) tháng tù đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù về Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 1,65 gam Methamphetamine + vỏ phong bì niêm phong ban đầu + 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu vàng; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma tuý đối với Giàng A Ph.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố Giàng A Ph về tội tàng trữ trái phép chất ma túy đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa bị cáo Giàng A Ph khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, lời khai của người chứng kiến, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can; thể hiện: Ngày 23/02/2021, bị cáo Giàng A Ph đã có hành vi tàng trữ 2,17 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Giàng A Ph phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã từng bị kết án, chưa được xóa án tích nay phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng là tái phạm. Là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số. Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Bản thân đã từng bị kết án về tội ma túy chưa được xóa án tích nhưng không rèn luyện tu dưỡng bản thân. Vì vậy, cần áp dụng mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Bị cáo Giàng A Ph đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Ngoài hình phạt hính là phạt tù bị cáo Giàng A Ph có thể bị chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Đối với nguồn gốc số ma túy thu giữ: Giàng A Ph khai nhận đã mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết tại khu vực bản C, xã L, huyện V, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V không có căn cứ để xác minh điều tra. Do đó, buộc Giàng A Ph phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã thu giữ.
. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 1,65 gam Methamphetamine + vỏ phong bì niêm phong ban đầu + 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu vàng; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma tuý đối với Giàng A Ph là vật cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
2. Tuyên bố bị cáo Giàng A Ph phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
3. Xử phạt bị cáo Giàng A Ph 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 23/2/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 1,65 gam Methamphetamine + vỏ phong bì niêm phong ban đầu + 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu vàng; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma tuý đối với Giàng A Ph.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hiếu |