- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2021/HSST Ngày: 27 - 8 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Bích Thủy
2. Bà Trần Thị Dần
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thắm - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2021/HSST, ngày 06 tháng 8 năm 2021 và theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2021/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Bùi Văn T; sinh ngày: 05/5/1973; tại: xã T, huyện T, tỉnh H; nơi cư trú: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 01/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn T1 (Đã chết); con bà: Nguyễn Thị L; Vợ: Cao Thị H, sinh năm: 1976; bị cáo có 04 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2011; tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2021 cho đến nay. Có mặt tại phiên Tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 15/5/2021, Công an xã Thành Long tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự bầu cử tại thôn Eo Bàn, xã Thành Long, phát hiện có một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy, nên đã yêu cầu kiểm tra. Người bị kiểm tra tên là Bùi Văn T, sinh năm 1973, trú tại thôn Eo Bàn, xã Thành Long. Kiểm tra trên người T phát hiện tại túi áo ngực phía trước bên trái có 03 gói nhỏ, kích thước khoảng (1x2) cm, bọc bên ngoài bằng lớp giấy màu trắng, dạng giấy viết học sinh, T khai đó là ma túy T mua về cất để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong toàn bộ tang vật nói trên sau đó chuyển toàn bộ hồ sơ và tang vật cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Thành điều tra theo thẩm quyền.
Tại bản Kết luận giám định số 1647/PC09 ngày 19/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Chất bột màu trắng chứa trong 03 gói nhỏ kích thước (01x02) cm bọc bên ngoài bằng lớp giấy màu trắng, dạng giấy viết học sinh, bên trong chứa chất bột màu trắng, thu giữ của Bùi Văn T được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,214 gam, loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn T khai nhậnT là người nghiện ma tuý, tối ngày 14/5/2021 T đi xuống thị trấn Vân Du gặp một người phụ nữ lạ mặt, T không rõ lai lịch, mua của người này 500.000 đồng một cục ma túy. Sau đóT quay về nhà của mình, phân chia cục ma túy mới mua thành 06 gói nhỏ, T đã sử dụng ngay lúc đó hết 03 gói nhỏ, còn 03 gói T cất vào túi áo ngực phía trước, bên trái rồi đi ngủ. Sáng ngày 15/5/2021, có nhu cầu sử dụng ma túy, nên T đi xuống chuồng gà phía sau nhà định lấy ma túy ra để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Thành Long phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Về người đã bán ma tuý cho mình, T khai mua của một người phụ nữ ở khu vực thị trấn Vân Du nhưngT không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra mở rộng vụ án.
Xác minh về nhân thân, điều kiện tài sản của Bùi Văn T xác định: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập cụ thể, tài sản là nhà và đất ở là tài sản chung vợ chồng.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 03 gói giấy màu trắng dạng giấy viết học sinh, kích thước (01 x 02) cm bên trong có chứa các chất bột màu trắng (kết quả giám định là Heroine). Sau giám định, cơ quan giám định đã hoàn lại mẫu vật giám định, gồm: Toàn bộ bao gói mở niêm phong và 0,200 gam chất bột màu trắng đựng trong một phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đăng, Lưu Bình Nguyên, Bùi Văn Toán và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, chờ xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKSTT ngày 06/8/2021, viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Bùi VănT về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị HĐXX áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/5/2021.
Về hình phạt tiền bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo Bùi Văn T.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu được.
Về án phí: Bị cáo Bùi Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh tụng tại phiên toà:
Bị cáo Bùi Văn T, không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên; Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp để có điều kiện học tập, cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn T thành khẩn nhận tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 15/5/2021, Bùi VănT đang cất giấu trên người 0,214 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Thành Long, huyện Thạch Thành phát hiện, bắt quả tang tại khu vực thôn Eo Bàn, xã Thành Long, huyện Thạch Thành. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất vụ án: Tính chất vụ án là nghiêm trọng do Bùi Văn T thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế - xã hội, huỷ hoại trực tiếp sức khoẻ chính bản thân bị cáo và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Để pháp luật được thực thi, trật tự an toàn xã hội được duy trì; để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của Bộ luật hình sự và cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có một tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
. Về nguồn gốc số ma túy: Do T khai mua của một người không quen biết, không rõ nhân thân, đặc điểm nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án là phù hợp.
. Về hình phạt tiền bổ sung: Quá trình điều tra, xác minh điều kiện tài sản hiện tại của Bùi Văn T, xác định T không có tài sản, thu nhập, nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
. Về vật chứng:
- Toàn bộ số ma túy thu được của Bùi Văn T là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Bùi Văn T 13 (Mười ba) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/5/2021.
Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc phong bì do Phòng cảnh sát hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lưu Bình Nguyên, Bùi Văn Toán và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa bên trong có chứa toàn bộ bao gói mở niêm phong và 0,200 gam chất bột màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định.
Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch thành theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/8/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Thành và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện T; - VKSND tỉnh H; - Công an huyện T; - Đội THAHS Công an huyện T; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN Bùi Thị Bích Thủy Hà Long Biên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Văn Tuấn THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Quân |