- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án số: 54/2021/HNGĐ- ST."
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N về việc Kiện Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn đối với anh Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2021/HNGĐ- ST. Ngày 11/3/2021 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hà Thị Vinh
2. Bà Đặng Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thảo Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 435/2020/TLST-HNGĐ, ngày 31/12/2020 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28/01/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2021/QĐST-HNGĐ ngày 24/02/2021, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị N, sinh năm 1991 Trú tại: Tổ dân phố Làng Cả, thị trấn S, huyện D, tỉnh Tuyên Quang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983. Trú tại: Thôn An Thịnh, xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
(Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Bùi Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Văn T đăng ký kết hôn vào ngày 20/6/2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện D, tỉnh Tuyên Quang trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống chung cùng gia đình anh T tại thôn An Thịnh, xã N, huyện Y được một thời gian ngắn. Sau đó chị chuyển về ở nhà bố mẹ đẻ tại tổ dân phố Làng Cả, thị trấn S, huyện D. Thời gian đầu vợ chồng chị sống hạnh phúc, hòa thuận bình thường, đến cuối năm 2012 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do tính tình hai bên không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm, lối sống. Do không ở được với nhau nên chị và anh T sống ly thân từ tháng 11 năm 2012 đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, không còn yêu thương quý trọng nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Y giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 17/8/2012. Hiện nay cháu Lan A đang ở với chị. khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, đất đai, công nợ chung: chị và anh T không có tài sản chung; không vay nợ ai, cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà, Chị N giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T trốn tránh, giấu địa chỉ, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó Tòa án không lấy được lời khai và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Y phát biểu quan điểm: Toà án đã thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn sơ thẩm về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” là đúng thẩm quyền, đúng nội dung tranh chấp. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thẩm phán và Hội đồng xét xử (HĐXX) đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N, xử cho chị Bùi Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Về con chung: giao cháu Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 17/8/2012 cho Chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị N và anh T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn, vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn, do vậy quan hệ pháp luật tranh chấp xác định là: Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: kết quả xác minh xác định anh Nguyễn Văn T đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại xã N, huyện Y. Vì vậy, căn cứ khoản 1, điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Y.
Anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 3 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N, HĐXX nhận định:
Đối với yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T: Căn cứ kết quả xác minh tại chính quyền địa phương nơi cư trú của anh T xác định: Chị N và anh T kết hôn từ tháng 6 năm 2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng Chị N chỉ chung sống hạnh phúc trong thời gian ngắn. Từ cuối năm 2012 đến nay, Chị N chuyển về nhà mẹ đẻ ở tổ dân phố Làng Cả, thị trấn S sinh sống, anh T và Chị N không chung sống cùng nhau. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, sống ly thân giữa Chị N và anh T thì chính quyền địa phương không nắm được. Tuy nhiên thực tế Chị N và anh T đã sống ly thân từ lâu, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc đến nhau, không tồn tại một gia đình hạnh phúc.
Bản thân Chị N xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể quay lại đoàn tụ được. Quá trình giải quyết vụ án, anh T không có ý kiến gì, không có mặt theo yêu cầu của Tòa án để tiến hành hòa giải, điều đó cho thấy anh T cũng không mong muốn hòa giải đoàn tụ. Từ những căn cứ trên xác định, tình trạng hôn nhân giữa Chị N và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của Chị N là chính đáng và có căn cứ cần chấp nhận theo quy định tại khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Đối với yêu cầu được giao nuôi con chung khi ly hôn, HĐXX nhận định: Chị N và anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Lan A - sinh ngày 17/8/2012. Từ khi sống ly thân (năm 2012) đến nay cháu Lan A sống cùng chị Nga, hiện tại Chị N đang trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T giấu địa chỉ, không rõ nghề nghiệp, mức thu nhập và không có văn bản trình bày nguyện vọng nuôi con. Chị N có nguyện vọng được nuôi con, bản thân cháu Lan A đã 9 tuổi có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Tham vấn ý kiến của chính quyền địa phương có ý kiến, do cháu Lan A là con gái, quá trình phát triển về tâm sinh lý sẽ cần sự chăm sóc, chỉ bảo của người mẹ nhiều hơn, cháu Lan A đã sống với mẹ từ bé, vì vậy nên giáo cháu Lan A cho Chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Từ những căn cứ trên, HĐXX xét thấy yêu cầu được quyền nuôi con của Chị N là có căn cứ cần được chấp nhận. Do Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nên anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Chị N xác định không có, không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị N phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh T không phải nộp án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 39, 147, 228, 235, 238, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án,
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N về việc Kiện Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn đối với anh Nguyễn Văn T.
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Bùi Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 17/8/2012 cho chị Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Lan A đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
3. Về án phí: chị Bùi Thị N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001947 ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Anh Nguyễn Văn T không phải nộp án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Y; - Chi cục THADS huyện Y; - UBND thị trấn S (Nơi ĐKKH); - Các đương sự; - Lưu VT- HS. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Phạm Văn Sử Đặng Thị Nga | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Toàn THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Toàn |