vanban.org

Bản án 54/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ngọc L và anh Lê Minh T.

Về nuôi con chung: Giao con chung Lê Thị Trà M, sinh ngày 21-4-2009 và Lê Thị Thúy V, sinh ngày 03-12-2010 cho anh Lê Minh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Ngọc L được quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngoc L ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ngọc L và anh Lê Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 54/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 15-10-2021
V/v tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƢỚC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Thu Thảo

2. Ông Nguyễn Thanh Dũ.

-Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Chung –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 15 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2021/TLST-HN ngày 16 tháng 4 năm 2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2021/QĐXXST-HN ngày 22 tháng 9 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2021/QĐST-HN ngày 05 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp PT, xã PM, huyện TP, tỉnh Tiền Giang (xin vắng mặt).

2.Bị đơn: Anh Lê Minh T, sinh năm 1985. Địa chỉ: ấp HĐ, xã HT, huyện T, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2008, chị và anh Lê Minh T được sự đồng ý của hai bên gia đình tổ chức lễ cưới sống chung có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã PM, huyện TP, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 17-6-2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc được thời gian đầu, đến khi có con chung vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm với nhau thường cự cãi nhau không khắc phục được. Vợ chồng tạo cơ hội hàn gắn khắc phục nhưng không hàn gắn được. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 8-2020 đến nay. Nay chị xin ly hôn với anh Lê Minh T.

Về nuôi con chung: Thời gian sống chung có 02 con chung Lê Thị Trà M, sinh ngày 21-4-2009 và Lê Thị Thúy V, sinh ngày 03-12-2010. Hiện nay con chung đang sống cùng anh T. Khi ly hôn chị đồng ý giao con chung cho anh T nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

*Bị đơn Lê Minh T:

Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ anh T nhưng anh T vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc L tranh chấp yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với bị đơn anh Lê Minh T, địa chỉ: ấp HĐ, xã HT, huyện T, tỉnh Tiền Giang nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lê Minh T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc L và anh Lê Minh T sống chung năm 2008 có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã PM, huyện TP, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn; quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T là hôn nhân hợp pháp. Xét tình cảm giữa chị L và anh T sống chung hạnh phúc được thời gian đầu sau đó thì mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên cự cãi nhau. Anh chị ly thân từ từ tháng 8-2020 cho đến nay, thời gian ly thân anh chị không còn liên lạc, không quan tâm đến cuộc sống của nhau cũng không hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành hòa giải để anh chị hàn gắn đoàn tụ nhưng anh T không đến tham dự cũng không có ý kiến đối với yêu cầu của chị L, điều đó chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc L.

Về nuôi con chung: Thời gian sống chung, anh chị có hai con chung Lê Thị Trà M, sinh ngày 21-4-2009 và Lê Thị Thúy V, sinh ngày 03-12-2010. Hiện nay con chung đang sống cùng anh T, khi ly hôn chị L đồng ý giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu Trà M và Thúy V đang sống ổn định cùng anh T, hai cháu Trà M và Thúy V có nguyện vọng sống cùng anh T, chị L cũng đồng ý tiếp tục giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, giao con chung Lê Thị Trà M và Lê Thị Thúy V cho anh Lê Minh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu án phí HNST theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56. Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ngọc L và anh Lê Minh T.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Lê Thị Trà M, sinh ngày 21-4-2009 và Lê Thị Thúy V, sinh ngày 03-12-2010 cho anh Lê Minh T trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị Nguyễn Thị Ngọc L được quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc L chưa phải đóng góp nuôi con do chưa có yêu cầu.

3.Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng án phí HNST được khấu trừ vào 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 20992 ngày 09-4-2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Chị L đã nộp đủ án phí HNST.

5.Quyền kháng cáo: Chị L, anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ