- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn Bùi Thị Thơm và Đặng Trung Thành"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 54/2021/HNGĐ-ST Ngày 31/12/2021 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Quế.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thu Hương;
Bà Nguyễn Thị Lệ Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 90/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Th, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Xóm K, xã Đ, huyện Y, tỉnh H; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Đặng Trung T, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Số nhà 202, ấp 4, xã A, huyện P, tỉnh B. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn bà Bùi Thị Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đặng Trung T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 26 tháng 4 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã An Thái, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Sau khi kết hôn, thời gian đầu chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng sau đó không hạnh phúc nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn: Hai vợ chồng thường bất đồng quan điểm và hay cãi nhau, không hợp nhau. Tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, không còn hàn gắn được nữa. Hiện tại, bà và ông T không còn chung sống với nhau, cuộc sống hai vợ chồng không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài. Vì vậy, bà quyết định ly hôn với ông Đặng Trung T.
Về con chung: Bà Th và ông T có 01 con chung tên Đặng Thảo M, sinh ngày 19/10/2011. Hiện tại, cháu Đặng Thảo M đang sống cùng ông T. Nếu được Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T, bà Th tôn trọng quyền quyết định của con chung Đặng Thảo M, nếu con có nguyện vọng được sống cùng bà, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyên đơn bà Bùi Thị Th có đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Đặng Trung T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử không thể xem xét ý kiến của bị đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục và thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Th và ông Đặng Trung T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn nên hôn nhân giữa bà Th và ông T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Th yêu cầu được ly hôn với ông Đặng Trung T. Bị đơn ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt, xét thấy ông T không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nguyên đơn bà Th có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Bùi Thị Th được ly hôn với bị đơn ông Đặng Trung T.
Về con chung: Bà Th và ông T có 01 con chung tên Đặng Thảo M, sinh ngày 19/10/2011. Theo nguyện vọng của con chung Đặng Thảo M được sống cùng cha nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Đặng Thảo M cho ông Đặng Trung T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông Đặng Trung T vắng mặt tại phiên toà nên Viện kiểm sát không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Th là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Th về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; hiện bị đơn ông Đặng Trung T đang thường trú tại xã An Thái, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương và nguyên đơn bà Bùi Thị Th có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn bà Bùi Thị Th có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên hòa giải, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà cho bị đơn ông Đặng Trung T, nhưng ông T vắng mặt trong các buổi hoà giải, phiên toà sơ thẩm và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến cho Toà án về việc khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Bùi Thị Th. Do vậy, Toà án căn cứ vào các Điều 5, 6, 91, 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Bùi Thị Th và bị đơn ông Đặng Trung T chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã An Thái, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện hai vợ chồng đã sống ly thân, nên nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn.
Theo Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã An Thái, huyện Phú Giáo ngày 11 tháng 5 năm 2021 thì ông T và bà Th chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Thái, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Nguyên nhân phát sinh của việc tranh chấp ly hôn giữa ông T và bà Th thì chính quyền địa phương không nắm rõ, do đương sự giải quyết nội bộ, cũng không trình báo sự việc hay nhờ chính quyền địa phương can thiệp giải quyết và không có đơn yêu cầu. Hiện tại, bà Th và ông T đã sống ly thân.
Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng bà Th và ông T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Bùi Thị Th được ly hôn với bị đơn ông Đặng Trung T theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Theo giấy khai sinh, sổ hộ khẩu xác định ông T và bà Th có 01 con chung tên Đặng Thảo M, sinh ngày 19/10/2011. Hiện tại, cháu M đang sống cùng ông T và cháu M đã trên 07 tuổi, cháu M có nguyện vọng được sống cùng cha. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ giao cháu Đặng Thảo M cho ông Đặng Trung T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông Đặng Trung T vắng mặt tại phiên toà nên Hội đồng xét xử không xem xét được yêu cầu cấp dưỡng nuôi con Đặng Thảo M. Do đó, Hội đồng xét xử tách yêu cầu cấp dưỡng nuôi con để giải quyết bằng vụ án khác, khi ông Đặng Trung T có đơn yêu cầu phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 5, Điều 6, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Th đối với bị đơn ông Đặng Trung T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Th được ly hôn với ông Đặng Trung T.
3. Về con chung:
Giao con chung Đặng Thảo M, sinh ngày 19/10/2011 cho ông Đặng Trung T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông T cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà Th trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.
Bà Bùi Thị Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được ngăn cản. Trường hợp, bà Th lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà Th.
Vì quyền lợi của con chưa thành niên, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu phù hợp quy định pháp luật.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Bà Bùi Thị Th phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí do bà Bùi Thị Th đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0043925 ngày 25 tháng 3 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Phú Giáo; - Chi cục THADS huyện Phú Giáo; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Quế |