vanban.org

Bản án 54/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 24/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. [1]. Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30/5/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2020/HSST
Ngày: 24/9/2020.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Thuấn.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông: Y Míp Niê – Giáo viên nghỉ hưu

Ông: Nguyễn Văn Lam – Cán bộ nghỉ hưu

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa: Hoàng Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án huyện Krông Năng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2020/HSST ngày 09/9/ 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Văn T - Sinh năm: 1996; Tại: tỉnh Bắc K; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn 3, xã Ea S, huyện Ea K, tỉnh Đắk L; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 0/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Tin Lành; Họ tên cha: Đặng Phụ N, sinh năm 1974; Họ tên mẹ : Lý Thị P, sinh năm 1971; Chị em ruột: Có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ 02; Họ tên vợ: H’ En N, sinh năm 1999; Con: Có 02 người con (lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2020 nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.

Những ngƣời tham gia tố tụng khác:

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Văn C - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Đắk L.(Có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị H’ En N - Sinh năm: 1999

Địa chỉ: Thôn Thôn 3, xã Ea S, huyện Ea K, tỉnh Đắk L (có mặt)

Người làm chứng: Nguyễn Đình T (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Xuân T, xã Ea Đ, huyện Krông N, tỉnh Đắk L

Anh: Đinh Thanh H (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Xuân T, xã Ea Đ, huyện Krông N, tỉnh Đắk L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Đặng Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông N, tỉnh Đăk L truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Đặng Văn T nghiện ma túy (loại Heroine) từ năm 2017 nên thường đi làm thuê kiếm tiền mua ma túy về để sử dụng dần. Ngày 30/5/2020, T mượn xe mô tô biển kiểm soát 47N1-01401 của gia đình nói là đi có việc. Sau đó, T một mình điều khiển xe mô tô trên đi từ nhà đến khu vực thôn Giang T, xã Ea D, huyện Krông N để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến đoạn đường gần vào thôn Giang Đ, T gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) xin đi nhờ xe vào thôn Giang Đ, Trường đồng ý. Trên đường đi, Trường hỏi người đàn ông: “biết ở đâu bán ma túy không?”, thì người này trả lời: “biết”. Khi đi đến thôn Giang Đ, T đưa cho người đàn ông trên 150.000 đồng và xe mô tô để nhờ người đàn ông trên đi mua hộ ma túy, còn T đứng bên đường chờ. Khoảng 15 phút sau, người đàn ông trên quay lại đưa 01 gói nylon màu đen đựng ma túy và xe mô tô cho T. T lấy một ít ma túy ra sử dụng bằng cách chích, số còn lại T bỏ vào 01 gói thuốc ngựa màu nâu rồi cất vào túi quần bên trái đang mặc, rồi điều khiển xe mô tô đi về, người đàn ông trên nhờ T chở về, T đồng ý. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn Xuân T, xã Ea Đ, huyện Krông N thì bị Lực lượng Công an huyện Krông N kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, cả hai nhảy xuống xe bỏ chạy, T bị bắt giữ còn người đàn ông trên bỏ chạy thoát. Thu giữ tại túi quần bên trái T đang mặc 01 gói nylon màu đen bên trong có chứa chất rắn màu trắng được niêm phong và 01 xe mô tô biển kiểm soát 47N1-01401.

Tại bản kết luận giám định số 488/GĐMT-PC09 ngày 03/6/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk L, kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói nylon màu đen được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1512gam, loại Heroine (mẫu vật còn lại sau giám định là 0,1328gam Heroine được niêm phong).

Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 07 tháng 9 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông N truy tố Đặng Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.

Phầ n tranh luậ n, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã công bố. Sau khi chứng minh hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đã đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn T từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông N đã tách chiếc xe mô tô BKS 47N1-01401 để xác minh khi nào có cơ sơ thì xử lý sau: Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 0,1328 gam còn lại sau giám định.

Bị cáo Đặng Văn T không tranh luận cũng như trình bày gì thêm với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã công bố. Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ mức hình phạt.

Trợ giúp viên bào chữa cho bị cáo có ý kiến tranh luận: Về tội danh đồng quan điểm về việc truy tố theo cáo trạng của đại diện viện kiểm sát, tuy nhiên về hình phạt đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị, bởi vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu vùng sa, kinh tế đặc biệt khó khăn. Đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Hành vi của bị cáo thể hiện: Ngày 30/5/2020, tại thôn Xuân T, xã Ea Đ, huyện Krông N, Đặng Văn T có hành vi tàng trữ 0,1512gam Heroine để sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Krông N kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)……………………………………………………………………………

c) Heroine …………….có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo thực hiện phạm tội khi có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và xâm phạm đến việc quản lý chất cấm của cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã mua và tàng trữ 0,1512 gam heroin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân cho nên đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm là cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, người phạm tội thành khẩn khai báo, là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông N đã tách 01 xe mô tô BKS 47N1-01401 để xác minh, khi nào tìm được chủ sở hữu xử lý sau. Cần tịch thu, tiêu hủy 0,1328 gam Heroine còn lại sau giám định.

Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[1]. Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30/5/2020.

[2]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông N tách 01 xe mô tô BKS 47N1-01401 để điều tra xác minh khi nào có kết quả xử lý sau: Tuyên tịch thu, tiêu hủy 0,1328 gamHeroine còn lại sau giám định (đặc điểm tang vật theo biên bản giao nhận ngày 7/9/2020 giữa Cơ quan điều tra và Thi hành án dân sự huyện Krông N)

[3]. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đặng Văn T.

[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ