- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc Đ (T), sinh năm 1983 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Đ (T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật - Tịch thu tiêu hủy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:54/2020/HS-ST Ngày: 25-11-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thưa
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Phong;
2. Bà Bùi Thu Hảo;
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc Đ (T), sinh năm 1983 tại xã thị xã GC, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: số BĐ, khu phố M, phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang; Chổ ở: số B Đ, khu phố M, phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn S và bà: Nguyễn Thị Kim Th; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Bản án số 27/2015/HSST ngày 28/7/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công xử phạt Nguyễn Quốc Đ 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2015. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng, chấp hành hình phạt tù xong vào ngày 31/01/2020; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/5/2020, chuyển tạm giam ngày 29/5/2020 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã GC, tỉnh tiền Giang, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
Ông Đỗ Hữu T, sinh năm: 1957 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố M, Phường H, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 22/5/2020, Nguyễn Quốc Đ đi từ thị xã GC, tỉnh Tiền Giang đến Quận B, thành phố Hồ Chí Minh để bán gà đá. Nguyễn Quốc Đ lấy tiền bán gà đến gặp 01 người đàn ông khoảng 25 tuổi, không rõ họ tên, địa chỉ cư trú để mua 1.000.000 đồng ma túy Heroine, sau đó gặp một người bạn tên U ở Quận B, thành phố Hồ Chí Minh, được U cho 01 bịch ma túy tổng hợp (ma túy đá). Nguyễn Quốc Đ đem số ma túy trên về Khu phố M, Phường H, thị xã G C, tỉnh Tiền Giang, phân ra thành nhiều liều nhỏ, bỏ trong 37 đoạn ống mũ màu trắng rồi hàn kín hai đầu, ma túy tổng hợp để nguyên, cất tất cả số ma túy vào trong túi quần đang mặc. Đến khoảng 01 giờ 15 phút, ngày 23/5/2020, Nguyễn Quốc Đ đi dạo chơi trước hẻm hoa viên TC tại Khu phố M, Phường H, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang thì bị lực lượng Công an thị xã GC kiểm tra bắt quả tang đang tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tang vật thu giữ:
- 01 bịch nylon được hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể rắn trong suốt (Nguyễn Quốc Đ khai là ma túy đá) đã được niêm phong có chữ ký xác nhận của Nguyễn Quốc Đ (người bị bắt) và Đỗ Hữu T (người chứng kiến). (Gói 1).
- 37 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín bên trong có chứa chất bột màu trắng (Nguyễn Quốc Đ khai là Heroine) đã được niêm phong có chữ ký xác nhận của Nguyễn Quốc Đ (người bị bắt) và Đỗ Hữu T (người chứng kiến). (Gói 2).
- 01 điện thoại di động màu đen hiệu COGO, đã qua sử dụng, còn SIM trong máy.
Theo Kết luận giám định số 119/KLGĐ-PC09 ngày 26/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang:
- Gói 1: Các mẫu tinh thể trong suốt trong 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín, để trong một bì thư màu trắng được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Quốc Đ (Người bị bắt) và Đỗ Hữu T (Người chứng kiến); gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 5,5366 gam, loại Methamphetamine.
- Gói 2: Các mẫu chất bột màu trắng trong 37 (ba mươi bảy) đoạn ống nhựa được hàn kín, để trong một bì thư màu trắng được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Quốc Đ (Người bị bắt) và Đỗ Hữu T (Người chứng kiến); gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng là 1,2223 gam, loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSTXGC ngày 30/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã GC, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Quốc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G C, tỉnh Tiền Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
2/ Về hình phạt: Căn cứ điểm n, o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đ từ 07 năm đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/5/2020.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 35, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đ từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
3/ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
* Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong: vụ số 119/1, 119/2 cùng ngày 26/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang; người chứng kiến Đỗ Hữu T, giám định viên Nguyễn Thanh Tr;
* Trả lại cho bị cáo Đạt 01 điện thoại di động màu đen hiệu COGO, đã qua sử dụng, còn SIM trong máy.
4/ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo Nguyễn Quốc Đ rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan đều tra Công an thị xã GC, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã GC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình đều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quốc Đ đã khai nhận: Vào khoảng 02 giờ 35 phút, ngày 23/5/2020, tại hẻm vào hoa viên TC thuộc khu phố M, Phường H, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thị xã GC đã bắt quả tang Nguyễn Quốc Đ đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong túi quần đang mặc, mục đích tàng trữ là để sử dụng như nội dung Cáo trạng đã nêu, không có oan sai.
Lời khai nhận trên của bị cáo Nguyễn Quốc Đ đã phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang do Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý công an thị xã GC, tỉnh Tiền Giang lập ngày 23/5/2020, lời khai của người làm chứng và vật chứng gồm có 5,5366 gam, loại Methamphetamine và 1,2223 gam, loại Heroine, đồng thời khớp với các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan cơ điều tra cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
. Với các chứng cứ tài liệu đã nêu trên, Tòa án có đầy đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Quốc Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 5,5366 gam, loại Methamphetamine và 1,2223 gam, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng, đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, do bị cáo chưa được xóa án tích cho nên trong lần phạm tội này đã tái phạm nguy hiểm.
. Hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây thiệt hại đến tính mạng sức khỏe con người, làm băng hoại đạo đức xã hội, là nguyên nhân gây tác động tiêu cực đến đời sống nhân dân, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Về động cơ, mục đích của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện thì thấy, bị cáo đã trưởng thành có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng chỉ vì muốn sử dụng ma túy nên bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý phạm tội. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của bị cáo gây ra.
. Xét về nhân thân bị cáo Đ có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” vừa chấp hành xong hình phạt ngày 31/01/2020 vẫn chưa được xóa án tích. Sau khi chấp hành xong hình phạt được trả tự do hoà nhập cộng đồng, bị cáo không nhận thức được lỗi lầm của mình để làm ăn lương thiện mà lại tiếp tục phạm tội, điều này chứng tỏ rằng bị cáo xem thường pháp luật, không chịu sửa chữa lỗi lầm. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục răn đe và phòng chống tội phạm, đồng thời cho bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội và có thời gian cai nghiện.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng thấy rằng tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo cũng thành khẩn khai báo, nên xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại đểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Theo qui định tại khoản 5 điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tuy nhiên xét bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.
. Về vật chứng:
- 02 gói niêm phong: vụ số 119/1, 119/2 cùng ngày 26/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang; người chứng kiến Đỗ Hữu T, giám định viên Nguyễn Thanh Tr, đây chính là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
- 01 điện thoại di động hiệu CoGo màu đen đã qua sử dụng, còn SIM trong máy. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận tài sản trên là của bị cáo, xét thấy đây là phương tiện không liên quan đến việc bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nên cần trao trả lại cho bị cáo là phù hợp quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Bị cáo Nguyễn Quốc Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 135, Đều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Xử:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Đ (T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm n, o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đ 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/5/2020.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong: vụ số 119/1, 119/2 cùng ngày 26/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang; người chứng kiến Đỗ Hữu T, giám định viên Nguyễn Thanh Tr.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc Đ 01 điện thoại di động hiệu CoGo màu đen đã qua sử dụng, còn SIM trong máy.
Thời gian thực hiện sau khi án có hiệu lực pháp luật.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã GCvà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã GC)
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Đều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
- Buộc bị cáo Nguyễn Quốc Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án để Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã GC; - Công an thị xã GC; - Chi cục THADS thị xã GC; - Bộ phận THA phạt tù; - Bị cáo, người bị hại, NLQ; - Lưu HS, AV. TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG Vào hồi 15 giờ 30 ngày 25 tháng 11 năm 2020 Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thưa. - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thu Hảo; 2. Ông Nguyễn Thanh Phong ngày 02 tháng 11 năm 2020 đối với: Tiền Giang; Nơi cư trú: số 4/8A Bạch Đằng, khu phố 1, phường 1, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang; Chổ ở: số 4/8A Bạch Đằng, khu phố 1, phường 1, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: trữ trái phép chất ma túy”. Kết quả biểu quyết 3/3. điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Kết quả biểu quyết 3/3. 3- Về mức hình phạt: ngày bắt tạm giữ 23/5/2020. Kết quả biểu quyết 3/3. 4. Các vấn đề khác: Tố tụng hình sự. 26/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang; người chứng kiến Đỗ Hữu Tình, giám định viên Nguyễn Thanh Trường. màu đen đã qua sử dụng, còn SIM trong máy. Thời gian thực hiện sau khi án có hiệu lực pháp luật. hành án dân sự thị xã Gò Công và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gò Công) Kết quả biểu quyết 3/3. quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. thẩm. Kết quả biểu quyết 3/3. hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án để Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định pháp luật. Kết quả biểu quyết 3/3. dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Kết quả biểu quyết 3/3. Nghị án kết thúc vào hồi 16 giờ ngày 25 tháng 11 năm 2020 cùng nghe và ký tên THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | Nguyễn Văn Thưa CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Gò Công, ngày 25 tháng 11 năm 2020. Tại phòng nghị án Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2020/TLST-HS Bị cáo: Nguyễn Quốc Đạt (Ty), sinh năm 1983 tại xã thị xã Gò Công, tỉnh Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH 1- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Đạt (Ty) phạm tội “Tàng 2- Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm n, o khoản 2 Điều 249; Điều 38; Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đạt 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật - Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong: vụ số 119/1, 119/2 cùng ngày - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc Đạt 01 điện thoại di động hiệu CoGo (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày ………/2020 của Chi cục Thi Về án phí: Căn cứ Điều 135, Đều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị Buộc bị cáo Nguyễn Quốc Đạt phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại, người đại diện Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |