- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2020/HS-ST Ngày 16/7/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Khưu Hán Quang
2. Ông Huỳnh Lý Chung
- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thanh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Doãn Đại - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 7 năm 2020 tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2020/HSST-QĐ ngày 06 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Mai Văn T (tên gọi khác: Xuân T); sinh ngày 14/7/1989 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: Đội x, xã xx, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Chỗ ở: Phòng x khách sạn Ân Tình, số x Lê Đại Hành, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Mai Thị Th (chết), không xác định được họ tên cha; bị cáo có vợ tên là Nguyễn Thị H, có con sinh năm 2013; tiền án: Ngày 10/9/2014 bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 158/2014/HSST. Bị can T chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm, tiền phạt bổ sung và lãi chậm thi hành án. Ngày 16/9/2017 bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 277/2017/HSST. Ngày 05/9/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 46/2018/HS-ST, chấp hành án đến ngày 02/5/2019 hết án tha; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 16/5/2008 bị Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 144/2008/HSST, chấp hành án đến ngày 07/10/2008 hết án tha; bị bắt tạm giam từ ngày 08/01/2020; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 08/01/2020, tại Phòng x, khách sạn Ân Tình số x Lê Đại Hành, Phường x, Quận 11, Đội Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an Quận 11 kiểm tra hành chính, phát hiện đối tượng Mai Văn T cất giữ 02 gói nylon chứa chất tinh thể không màu nghi là ma túy và 01 chai nhựa có nắp gắn ống hút và ống thủy tinh đầu phễu tròn nên tiến hành thu giữ vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. (BL 84-85)
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã tiến hành trưng cầu giám định 02 gói nylon chứa tinh thể không màu thu giữ của bị can T. Tại Bản kết luận giám định số 169/KLGĐ-H ngày 16/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: “Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,6653g (một phẩy sáu sáu năm ba gam), loại Methamphetamine”. (BL 27)
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị can T khai nhận: Vào sáng ngày 07/01/2020, bị can T đến khu vực bãi đậu xe buýt khu C bên trong Công viên 23/9, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 và hỏi mua số ma túy trên từ một người nam giả nữ (không rõ lai lịch) với giá 1.000.000 đồng, sau đó cất giữ để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã tiến hành xác minh người bán ma túy cho bị can T tuy nhiên chưa xác định được đối tượng. (BL 110-115, 118)
Vật chứng vụ án gồm có:
- 01 (một) gói nylon được niêm phong ghi vụ số 169, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
- 01 (một) chai nhựa có nắp gắn ống hút và ống thủy tinh tròn dài đầu hình phễu tròn, là dụng cụ bị can T dùng để sử dụng ma túy.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel màu đen, 01 (một) điện thoại di động hiệu MI màu trắng xanh đều đã qua sử dụng, là tài sản của bị can T dùng để liên lạc cá nhân.
- Tiền Việt Nam 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), là tài sản cá nhân của bị can T.
Tại Bản cáo trạng số 51/CT-VKSQ11 ngày 26/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can Mai Văn T tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Mai Văn T có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; đề nghị xử lý vật chứng như sau: Tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy còn lại sau giám định, một chai nhựa có nắp gắn ống hút và ống thủy tinh tròn dài đầu hình phễu tròn; trả lại cho bị cáo hai diện thoại di động và số tiền 20.000.000 đồng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 08/01/2020, tại Phòng x, khách sạn Ân Tình số x Lê Đại Hành, Phường x, Quận 11, bị cáo Mai Văn T đã có hành vi cất giữ hai gói nylon chứa chất tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,6653g (một phẩy sáu sáu năm ba gam), loại Methamphetamine.
Bị cáo Mai Văn T khai nhận sử dụng ma túy đá từ năm 2018. Lời khai này phù hợp với kết quả xét nghiệm chất ma túy qua nước tiểu của bị cáo do Bệnh viện Quận 11 thực hiện vào ngày 08/01/2020.
Bị cáo Mai Văn T cất giấu ma túy nhằm mục đích để sử dụng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ ma túy là chất gây nghiện mang tính độc hại cao bị Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển. Song do nghiện ma túy và muốn thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất gây nghiện, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, chống lại chủ trương bài trừ tệ nạn ma túy của Nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo tàng trữ chất ma túy là loại Methamphetamine, có khối lượng 1,6653g (một phẩy sáu sáu năm ba gam) nên thuộc trường hợp phạm tội quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h Khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng:
Đối với vật chứng là một gói được niêm phong ghi vụ số 169, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra, bên trong có ma túy còn lại sau khi giám định là vật cấm tàng trữ. Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tịch thu, tiêu hủy.
Đối với vật chứng là một chai nhựa có nắp gắn ống hút và ống thủy tinh tròn dài đầu hình phễu tròn, là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy. Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tịch thu, tiêu hủy.
Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Itel màu đen, một điện thoại di động hiệu MI màu trắng xanh đều đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), là tài sản của bị cáo Mai Văn T không sử dụng vào việc phạm tội. Căn cứ điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét giải quyết trả lại cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Mai Văn T, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Về xem xét vai trò, trách nhiệm của các đối tượng có liên quan trong vụ án:
Đối với đối tượng là một người nam giả nữ có hành vi bán ma túy cho bị cáo Mai Văn T tại khu vực Công viện 23/9, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1. Do chưa xác định được lai lịch của đối tượng nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ; khi điều tra, truy xét được sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 50; điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h Khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Mai Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2020.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy một gói được niêm phong ghi số vụ 169, bên ngoài có chữ lý của giám định viên và cán bộ điều tra, bên trong có ma túy còn lại sau khi giám định (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 18/MT ngày 05/02/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Tịch thu tiêu hủy một chai nhựa có nắp gắn ống hút và ống thủy tinh tròn dài đầu hình phễu tròn (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 06/ĐCSMT ngày 10/01/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Trả lại cho bị cáo Mai Văn T vật chứng là một điện thoại di động hiệu Itel màu đen, một điện thoại di động hiệu MI màu trắng xanh đều đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 06/ĐCSMT ngày 10/01/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND - VKSND TPHCM; - Sở Tư pháp TPHCM; - PC 27 - CA TPHCM; - VKSND Q.11; - Công an Q.11; - Chi cục THADS Q.11; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Cơ Dũng |