- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Hồng H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Đào Hồng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2020/HS-ST Ngày 29-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và bà Phạm Thị Hợi
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Đào Hồng H, sinh ngày 15/7/2003 tại huyện N, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn 2, xã T, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đào Văn N và bà Nguyễn Thị Q; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/4/2020 sau chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương, có mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo:
Ông Đào Văn N, sinh năm 1973; trú tại: Thôn 2, xã T, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1981; HKTT:thôn B, xã N, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương; hiện trú tại: Thành phố M, tỉnh Quảng Ninh (là bố mẹ đẻ của bị cáo), đều có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Chi- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hải Dương; (có mặt).
- Người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Doãn L, sinh năm 1962; trú tại: thôn H, xã C, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
+ Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1972; trú tại: khu L, thị trấn T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương;
+ Anh Nguyễn Hoàng T, sinh năm 2002; trú tại: thôn T, xã T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương;
Những người làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 20 phút, ngày 19/4/2020, tại phòng 401, nhà nghỉ 3.. ở khu A, thị trấn T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ kiểm tra hành chính đã thu giữ tại mặt bàn cạnh giường ngủ của Đào Hồng H 01 túi nilon kích thước (2x1,5)cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể mầu trắng; 01 chai nhựa trên nắp được đục 02 lỗ có cắm 02 ống hút nhựa mầu vàng, trong đó có 01 ống hút có gắn ống thủy tinh; 01 bật lửa ga có gắn đầu khò, mầu đỏ. H khai túi nilon bên trong có chứa các hạt tinh thể mầu trắng là ma túy tổng hợp dạng đá do H cùng một người bạn tên Phạm Quyết T mới quen biết mua được, mục đích để sử dụng; còn các công cụ trên là do T chuẩn bị từ trước mang đến để làm dụng cụ sử dụng số ma túy mà cả hai vừa mua về.
Quá trình điều tra xác định: Bị cáo nghiện chất ma túy, khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 19/4/2020, bị cáo đang đi làm tại khu vực C, thuộc địa phận xã T huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương thì gặp Phạm Quyết T là bạn mới quen của bị cáo (bị cáo không biết năm sinh và địa chỉ của T), đến rủ bị cáo đi mua ma túy về sử dụng chung, bị cáo đồng ý. T điều khiển xe mô tô chở H sang khu vực chân Cầu V thuộc địa phận thị trấn T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương để mua ma túy. Sau khi mua ma túy xong, H điều khiển xe mô tô chở T đến nhà nghỉ 3.., thuộc khu A, thị trấn T, huyện Tứ Kỳ để thuê phòng sử dụng ma túy. Tại đây T lấy từ trên người các dụng cụ sử dụng ma túy, đồng thời lấy số ma túy mà cả hai vừa mua được ra để sử dụng một ít. Sau khi sử dụng ma túy xong, T để lại số ma túy còn lại trong phòng nghỉ và đi khỏi phòng, còn H vẫn ở lại phòng nhà nghỉ thì bị kiểm tra phát hiện, thu giữ cùng vật chứng.
Tại bản kết luận giám định số 191/KLGĐ-PC09 ngày 21/4/2020, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng niêm phong trong phong bì ghi thu của Đào Hồng H gửi đến giám định có khối lượng 0,188 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKS-TK, ngày 15/6/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Đào Hồng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX ) áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 90, 91, 101; Điều 38 BLHS. Tuyên bố bị cáo Đào Hồng H phạm tội “Tàng trữ trái phép ma túy”, xử phạt bị cáo Đào Hồng H từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), tịch thu tiêu hủy 0,127gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 chai nhựa (loại nước lavie), trên nắp chai đục 02 lỗ nhỏ; 02 ống hút nhựa mầu vàng, trong đó 01 ống hút có gắn ống thủy tinh; 01 bật lửa ga có gắn đầu khò; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo H, bà Nguyễn Thị Chi nhất trí với tội danh mà VKSND huyện Tứ Kỳ đã truy tố. Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết thành khẩn khai báo, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình bố mẹ đã ly hôn, bị cáo ở với ông bà nội, thiếu người chăm sóc giáo dục, khi phạm tội là người chưa thành niên và áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 90, 91, 101 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo H từ 09 tháng tù. Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo nhất trí với ý kiến của người bào chữa, không bổ sung gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy HĐXX có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 11 giờ 20 phút, ngày 19/4/2020, tại phòng 401, nhà nghỉ 3… thuộc khu A, thị trấn T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Đào Hồng H có hành vi tàng trữ trái phép 0,188gam ma túy là loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra, Công an huyện Tứ Kỳ kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, song với mục đích để sử dụng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Số ma túy là loại Methamphetamine mà bị cáo tàng trữ có khối lượng là 0,188gam nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Như vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức được ma tuý không chỉ gây tác hại rất lớn về sức khỏe cho chính người sử dụng mà còn làm ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, là gánh nặng cho gia đình, xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng vì mục đích sử dụng cho bản thân để thoả mãn cơn nghiện và ý thức coi thường pháp luật, tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa thành niên là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91 và 101 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người chưa thành niên, không nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Khối lượng chất ma túy là loại Methamphetamine bị cáo tàng trữ trái phép, sau khi giám định còn lại 0,127gam là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 chai nhựa (loại nước lavie), trên nắp chai đục 02 lỗ nhỏ; 02 ống hút nhựa mầu vàng, trong đó 01 ống hút có gắn ống thủy tinh; 01 bật lửa ga có gắn đầu khò là các dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng ma túy, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS).
Đối với thanh niên tên Thắng đi mua ma túy và cùng sử dụng với H. Quá trình điều tra chưa làm rõ được nhân thân, lai lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ tiếp tục làm rõ để xem xét xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 90, 91, khoản 1 Điều 101 của BLHS;
1. Tuyên bố: bị cáo Đào Hồng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đào Hồng H 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giữ, ngày 19/4/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,127gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 chai nhựa (loại nước lavie), trên nắp chai đục 02 lỗ nhỏ; 02 ống hút nhựa mầu vàng, trong đó 01 ống hút có gắn ống thủy tinh; 01 bật lửa ga có gắn đầu khò.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/7/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ).
3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Bị cáo Đào Hồng H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKS tỉnh Hải Dương; - VKS, CA, THADS huyện Tứ Kỳ; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan THA hình sự Công an huyện Tứ Kỳ; - Bị cáo; Người đại diện hợp pháp cho bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp Hải Dương; - Lưu hồ sơ; - Lưu vp. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Quân |