vanban.org

Bản án 54/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 22/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Tuấn A ph m tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử ph t: Đỗ Tuấn A 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày 06/4/2020. Vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Do Tuan A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Tuấn A ph m tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 54/2020/HS-ST
Ngày: 22-7- 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Cầm Thị Tươi.

2. Ông Lò Văn Chung.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Điệp, thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2020, t i Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 60/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 55/ 2020/QĐXXST-HS ngày 13/7/2020, đối với bị cáo:

Đỗ Tuấn A, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Tổ 11, Phường Q, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Văn Đ và con bà: Nguyễn Thị C (đã chết); có vợ: Nguyễn Thị Thanh N (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2008; tiền án; tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 07/8/2008 bị TAND huyện Mai Sơn xử ph t 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã xóa án tích); ngày 14/7/2017 bị TAND thành phố Sơn La xử ph t 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã xóa án tích); bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 06/4/2020 cho đến nay. Có mặt t i phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 00 phút ngày 06/4/2020, tổ công tác Công an huyện Sông Mã làm nhiệm v t i bản Pá Bông, Chiềng Khoong, Sông Mã kiểm tra phát hiện một đối tượng nam giới điều khiển xe mô tô đi theo hướng bản Bướm Ỏ, Chiềng Khoong đến có biểu hiện nghi vấn ph m tội về ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu đối tượng dừng xe để kiểm tra, khi đối tượng đi đến còn cách tổ công tác khoảng 5 mét, qua ánh đèn xe mô tô tổ công tác phát hiện tay trái đối tượng đã thả 01 bọc nilon màu trắng xuống lòng đường, tổ công tác đã yêu cầu đối tượng tự nhặt gói nilon màu trắng giao nộp cho tổ công tác. Tiến hành m kiểm tra thấy bên trong bọc nilon màu trắng chứa 02 mảnh bánh dày (bánh của dân tộc Mông) màu trắng, kẹp giữa 02 mảnh bánh là 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa c c chất bột màu trắng nghi là Heroine, lúc này đối tượng mới khai tên là Đỗ Tuấn A, sinh năm 1985 trú t i Tổ 11, phường Q, thành phố Sơn La. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ 01 điện tho i di động màu đen hiệu Nokia RM1011, số imei 357805/06/882004/3, đã qua sử d ng; 01 xe mô tô hiệu Honda, lo i xe Wave màu xanh – đen, BKS 16M6 – 6827, số khung 238761, số máy 6338840, đã qua sử d ng.

Ngày 08/4/2020 t i Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành m niêm phong cân tịnh xác định khối lượng, kết quả: 01 c c chất bột liên kết màu trắng có tổng khối lượng là 1,37gam, sử d ng hết 1,37gam làm mẫu giám định ký hiệu A.

T i Kết luận giám định số 594 ngày 13/4/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu A là ma túy, lo i Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 1,37gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,37gam, lo i Heroine.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Đỗ Tuấn A sử d ng ma túy từ năm 2013. Sáng ngày 06/4/2020, A từ nhà thành phố Sơn La vào huyện Sông Mã để lái xe thuê cho anh Nguyễn Văn L là chủ Doanh ghiệp vận tải Duyên L t i xã N, Sông Mã và có mang theo số tiền 1.000.000VNĐ để chi tiêu cá nhân. Khoảng 18 giờ cùng ngày A hỏi mượn xe mô tô của anh L để đi tìm mua ma túy sử d ng (nhưng không nói cho anh L biết), A vừa đi vừa hỏi đường đến bản Bướm Ỏ, Chiềng Khoong, Sông Mã, khi lên đến đầu bản thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang đứng đường, A đi đến nói chuyện và hỏi mua Heroine thì được người này nhất trí bán cho 01 gói Heroine với số tiền 1.000.000VNĐ, sau khi nhận tiền người đàn ông lấy ra 02 mảnh bánh dày rồi lấy gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh kẹp vào giữa 02 mảnh bánh gói l i bằng túi nilon màu trắng đưa cho A, A nhận rồi cầm tay trái điều khiển xe mô tô đi về, khi A đi đến khu vực bản Pá Bông, Chiềng Khoong, Sông Mã bị tổ công tác Công an huyện Sông Mã bị phát hiện, bắt quả tang cùng các vật chứng như đã nêu trên.

Cáo tr ng số: 59/CT-VKSSM ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Đỗ Tuấn A về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy đinh t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

T i phiên toà, Kiểm Sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Ph t bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù. Xét hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình ph t bổ sung cho bị cáo; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xác định tội danh:

- Ngày 06/4/2020 bị cáo bị bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu trái phép ma tuý, tang vật thu giữ được theo kết luận giám định là chất ma tuý, lo i Heroine có khối lượng 1,37gam.

- T i phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai t i cơ quan Điều tra; phù hợp với nội dung, tội danh bản Cáo tr ng; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với biên bản ph m tội quả tang cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. T i phiên tòa không phát sinh tình tiết mới. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s để kết luận: Đỗ Tuấn Anh đã ph m tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội ph m của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi ph m tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm ph m sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy; gây mất trật tự trị an t i địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu tránh nhiệm theo quy định của pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, t i cơ quan Điều tra và t i phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên sẽ được hư ng 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về vấn đề khác liên quan:

- Đối với người đàn ông dân tộc Mông bị cáo khai đã bán ma tuý cho bị cáo, do không biết họ tên, địa chỉ c thể nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để điều tra, m rộng v án là có căn cứ, cần chấp nhận.

- Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda, lo i xe Wave màu xanh– đen có BKS 16M6 – 6827 t m giữ của bị cáo, xác định được là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị D (vợ anh L), khi bị cáo mượn thì anh L và chị D không biết việc bị cáo dùng để đi mua ma túy. Ngày 11/6/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả l i xe mô tô trên cho Nguyễn Thị D quản lý và sử d ng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vật chứng của v án còn l i gồm:

- 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m ; 01 mảnh túi nilon màu xanh; 01 phong bì màu trắng của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, đã niêm phong kín bên trong đựng 1,10 gam lo i Heroine và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 02 mảnh bánh màu đều là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 điện tho i di động hiệu Nokia màu đen, có số seerri 1: 357805068820043, số seerrin 2: 357805068820050 t m giữ của bị cáo, xác định được không liên quan đến việc ph m tội, nên cần trả l i.

Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên được xem xét miễn hình ph t bổ sung (là ph t tiền) cho bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định chung.

Về đề xuất mức án của Kiểm sát viên đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, bị cáo tàng trữ ma tuý với khối lượng đáng kể (1,37 gam). Do đó Hội đồng xét xử cần xem xét để có mức hình ph t tương xứng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự; các Điều 21, 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Tuấn A ph m tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử ph t: Đỗ Tuấn A 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày 06/4/2020.

2. Vật chứng:

- Tịch thu để tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m ; 01 mảnh túi nilon màu xanh; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 02 mảnh bánh màu trắng và 01 phong bì thư niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La.

- Trả l i cho bị cáo: 01 điện tho i di động hiệu Nokia màu đen, có số seerri 1: 357805068820043, số seerrin 2: 357805068820050 điện tho i đã qua sử d ng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2020 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ