- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chang Văn P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chang Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2020/HS-ST Ngày: 30/12/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình
Các hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn Xuân Chản; Ông Tẩn Kim Sơn.
- Thư ký phiên toà: Ông Chảo Hò Sơn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Gia Binh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 12 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Chang Văn P. Tên gọi khác: Không, giới tính: Nam.
Sinh năm 1969, tại huyện P, tỉnh Lai Châu;
Nơi ĐKHKTT: Tổ 1, phường Q, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/10; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Con ông: Chang Văn T, con bà: Vàng Thị D (cả bố và mẹ bị cáo đều đã chết); Bị cáo có vợ: Lò Thị L, sinh năm 1979 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 32/2011/HSST ngày 22/12/2011 Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/5/2020 đến ngày 06/6/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Lò Thị L, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Tổ 1, phường Q, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Có mặt.
Người làm chứng : Giàng A S, sinh năm 1953.
Địa chỉ : Bản C, xã M, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 28/5/2020, Chang Văn P một mình điều kiển xe môt tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 25B1-188.84 đi từ nhà đến bản C, xã M, huyện Sìn Hồ để lấy củi. Khi đến nơi, P đi vào nhà người quen là Giàng A S, sinh năm 1953 để chơi và hút thuốc lào. Qua nói chuyện, P nói với S chuẩn bị đi đến bản N, xã P để tìm mua gà nên S đã xin đi nhờ xe để đến nhà con gái của S chơi, P đồng ý. Sau đó P điều khiển xe mô tô chở S về phía bản N, khi còn cách trung tâm bản khoảng 500m, P dừng xe lại, nói với S là đi mua gà, rồi một mình đi bộ về phía trung tâm bản N, còn S đi đâu làm gì, P không biết. Khi đi được 200m P gặp một người đàn ông dân tộc Dao khoảng 40 tuổi, tự giới thiệu tên là P. P đã hỏi mua được của P 01 gói heroine, ngoài gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 600.000 đồng. Trao đổi mua bán xong, P đi bộ quay về vị trí để xe mô tô thì thấy S đang ở gần khu vực để xe. Sau đó P điều khiển xe chở S đi về, khi đi được khoảng 03 km thì P dừng xe lại, nói với S là đi vệ sinh, rồi một mình vào bụi cây ven đường, lấy một ít heroine từ gói mua được ra để sử dụng bằng hình thức hít, phần còn lại P chia thành 02 gói nhỏ, một gói được gói bằng 03 mảnh nilon, gói còn lại được gói bằng 04 lớp nilon rồi cất giấu 02 gói heroine vào trong gấu quần bên phải đang mặc trên người, mục đích để sử dụng dần. Thấy P đi lâu nên S đi vào trong bụi cây thì thấy P đang hút heroine, S nói với P cho sử dụng cùng thì P đưa phần heroine đang hút dở cho S sử dụng. Sau khi sử dụng heroine xong, P và S về đến Km 34+ 350 quốc lộ 129 thuộc bản C, xã M thì bị tổ công tác Công an huyện Sìn Hồ phối hợp với phòng PA09 Công an tỉnh Lai Châu yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện, thu giữ 02 gói heroine của P đang cất giấu trong gấu quần bên phải đang mặc và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Chang Văn P về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bản Kết luận giám định tư pháp số 30 ngày 29/5/2020 của người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Công an huyện Sìn Hồ kết luận: 02 mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Chang Văn P (ký hiệu M1 có khối lượng 0,5 gam, M2 có khối lượng 0,26 gam), tổng khối lượng là 0,76 gam.
Bản Kết luận giám định số 257/GĐ-KTHS ngày 05/6/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 02 mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Chang Văn P (ký hiệu M1, M2) gửi giám định đều là ma túy, loại heroine.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố.
Tại bản Cáo trạng số: 53/CT-VKSSH, ngày 20 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Chang Văn P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ giữ nguyên quan điểm truy tố, sửa đổi bổ sung về ngày tạm giữ, từ ngày 28/5/2020 đến ngày 06/6/2020 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Chang Văn P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chang Văn P từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì nên không đề nghị giải quyết.
- Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với: 01 phong bì Công văn của công an huyện đã được niêm phong theo quy định bên trong chứa 01 mảnh nilon màu đen; 03 mảnh nilon màu xanh; 03 mảnh nilon màu hồng (vật chứng còn lại sau khi mở niêm phong cân tịnh khối lượng heroine của Chang Văn P). Không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và đề nghị mức hình phạt, bị cáo đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, đề nghị. Bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sìn Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hội đồng xét xử nhận thấy lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với biên bản phạm tội quả tang; lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; bản Kết luận giám định số 257/GĐ-KTHS ngày 05/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu cùng các tài liệu chứng cứ khác đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 21 giờ 30 phút ngày 28/5/2020, tại bản Km 34+ 350 quốc lộ 129 thuộc bản Can Tỷ 3, xã Ma Quai, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Chang Văn P đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,76 gam heroine với mục đích sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ phối hợp với phòng PA09 Công an tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của Chang Văn P là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phải chịu trách nhiệm do hành vi phạm tội của mình đã gây ra. Do vậy Hội đồng xét xử kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét về nhân thân bị cáo: Tại bản án số 32/2011/HSST ngày 22/12/2011 Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã được xóa án tích.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị là hoàn toàn phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bản thân không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 0,76 gam heroine đã gửi hết đi giám định không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập giải quyết. Đối với 01 phong bì của Công an huyện Sìn Hồ, bên trong chứa 01 mảnh giấy một mặt màu đen; 03 mảnh nilon màu xanh; 03 mảnh nilon màu hồng, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA loại xe Wave RSX màu đỏ- đen, biển kiểm soát 25B1-188.84 là phương tiện bị cáo dùng để đi mua heroine. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe máy trên là của chị Lò Thị L, sinh năm 1979 (vợ bị cáo) việc dùng để đi lấy củi và mua heroine chị L không biết. Ngày 13/6/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ đã ra quyết định trả lại chiếc xe trên cho chị L. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa chị Lò Thị L đã nhận lại xe máy và không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về nguồn gốc 0,76 gam heroine, Chang Văn P khai mua của người đàn ông tên P khoảng 40 tuổi tại bản N, xã P, huyện Sìn Hồ, Cơ quan Điều tra đã xác minh nhưng không đủ căn cứ để điều tra xử lý. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Đối với Giàng A S không biết việc đi mua ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy của Chang Văn P, S chỉ là người xin đi nhờ xe P và được P cho sử dụng heroine cùng nên S không đồng phạm với Phong trong vụ án này. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 136; Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14.
Tuyên bố bị cáo Chang Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Chang Văn P 02 năm 03 tháng tù. Khấu trừ 09 (chín) ngày tạm giữ, từ ngày 28/5/2020 đến ngày 06/6/2020. Thời hạn tù còn lại 02 năm 02 tháng 21 ngày, tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo từ ngày tuyên án đến khi bị cáo vào trại chấp hành án.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì của Công an huyện Sìn Hồ, bên trong chứa 01 mảnh nilon màu đen, 03 mảnh nilon màu xanh, 03 mảnh nilon màu hồng (tất cả đã được niêm phong theo quy định).
(Vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an huyện Sìn Hồ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sìn Hồ ngày 23/11/2020).
- Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày 30/12/2020, lên Tòa án cấp trên để xét xử theo thủ tục Phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở tư pháp tỉnh; - VKSND huyện; - CQCSĐT- Công an huyện; - CQTHA hình sự huyện; - Chi cục THA dân sự huyện; - Bị cáo; người có quyền lợi NVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Bình |