- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A Nha - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Giàng A N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2020/HS-ST Ngày 30 tháng 9 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lò Văn Chiên;
2. Ông Tẩn Cao Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lù Thị Xuân- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Nhài - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2020/TLST-HS, ngày 14 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2020/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng A N, sinh năm 1984, tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản M, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Hà Nhì; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A K và bà Cao Mỳ H; Bị cáo có vợ là Chu Mỳ X và có 05 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/6/2020 đến ngày 24/6/2020, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 15/6/2020, tại một lán nương ở khu vực bản Huổi Luông 1, xã Huổi Luông, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Giàng A N đã mua được 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh ni lon màu xanh buộc thắt lại, với giá 400.000 đồng của một người đàn ông không rõ lai lịch cụ thể, mục đích N mua để sử dụng cho bản thân. Ngay sau khi mua được Heroine, N đã cấu một ít ra để dụng bằng hình thức chích, còn người đàn ông đã bán Heroine đi đâu N không biết. Số Heroine còn lại, N gói lại và lấy bật lửa đốt túm lại một đầu, N cho gói Heroine vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng rồi cho vào túi áo ngực đang mặc và đi về nhà. Hồi 18 giờ 15 phút cùng ngày 15/6/2020, khi N đang đi bộ tại đoạn đường thuộc bản Huổi Luông 1, xã Huổi Luông thì bị tổ công tác Công an huyện Phong Thổ và Bộ đội biên phòng Đồn Biên phòng Huổi Luông phát hiện. Khi tổ công tác yêu cầu giao nộp những đồ vật liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật, N đã tự giác lấy từ trong túi áo ngực đang mặc ra một vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có chất bột màu trắng được gói bằng mảnh ni lon màu xanh đốt túm lại, giao nộp cho tổ công tác. N khai số chất bột màu trắng đó là Heroine do N mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật. Cơ quan điều tra trưng cầu giám định đã xác định được số chất bột màu trắng thu giữ của Giàng A N là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,45 gam.
Tại bản Cáo trạng số: 55/CT-VKS, ngày 14 tháng 9 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Giàng A N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giàng A N từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,38 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 mảnh nilon màu xanh, dùng để gói số Heroine trong vụ án cùng toàn bộ vỏ niêm phong cũ. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội mà bị cáo Giàng A N đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản mở niêm phong vật chứng; kết luận giám định; lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định:
Hồi 18 giờ 15 phút, ngày 15/6/2020, tại đoạn đường thuộc bản Huổi Luông 1, xã Huổi Luông, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, khi tổ công tác Công an huyện Phong Thổ và Bộ đội biên phòng Đồn Biên phòng Huổi Luông làm nhiệm vụ đã phát hiện Giàng A N đang tàng trữ trong túi áo ngực N đang mặc một vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có chất bột màu trắng được gói bằng mảnh ni lon màu xanh đốt túm lại. Giàng A N khai nhận số chất bột màu trắng đó là Heroine do N mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ, mục đích mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật. Kết quả trưng cầu giám định đã xác định được số chất bột màu trắng thu giữ của Giàng A N là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,45 gam.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ Heroine là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nguồn gốc số Heroine bị thu giữ là bị cáo mua của một người không rõ lai lịch cụ thể nên không có cơ sở để điều tra xử lý đối người đã bán Heroine cho bị cáo.
Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Số Heroine thu giữ của bị cáo đã được gửi đi giám định còn lại 0,38 gam là vật cấm lưu hành; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 mảnh ni lon màu xanh do bị cáo dùng để gói Heroine và vỏ niêm phong cũ là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 47, 50 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
1. Bị cáo Giàng A N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Giàng A N: 02 (Hai) năm tù.
Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/6/2020 đến ngày 24/6/2020. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,38 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 mảnh nilon màu xanh, dùng để gói số Heroine trong vụ án cùng toàn bộ vỏ niêm phong cũ.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản được lập hồi 10 giờ 00 phút, ngày 18/9/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
3. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp; - VKSND huyện Phong Thổ; - CA huyện Phong Thổ (CQĐT, THAHS); - THADS huyện Phong Thổ; - UBND xã H; - Bị cáo; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |