- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung giữa chị D và anh C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Mỷ D về việc “Ly hôn” với anh Nguyễn Tấn C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| - 1 - TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC TỈNH LONG AN Bản án số: 54/2020/HNGĐ-ST Ngày: 24-7-2020 V/v ly hôn giữa Chị D và anh C |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Ánh Hồng
2. Ông Nguyễn Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Trinh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Ngày 24 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Đước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2020/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Mỷ D, sinh năm 1994 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp 2A, xã T, huyện C, tỉnh L.
Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn C, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 1, xã P, huyện C, tỉnh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 17/02/2020 và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đinh Thị Mỷ D trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tấn C cưới nhau vào năm 2017, hôn nhân do tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 02/3/2017 tại UBND xã P, huyện C, tỉnh L. Theo chị, vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do chị và anh C bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nên thường xuyên cải nhau, do chị mâu thuẫn với gia đình chồng nhưng anh C cũng không giải quyết được. Chị và anh C ly thân từ tháng 12/2019 cho đến nay nhưng cả hai không ai có thiện chí hàn gắn hạnh phúc. Nay xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh C.
Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Bảo A, sinh ngày 13/10/2017. Chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Bảo Anh, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
- 2 -
Về chia tài sản: không có.
Về nợ: không có.
Tòa án tiến hành lập thủ tục thông báo về việc thụ lý vụ án và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn anh Nguyễn Tấn C vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Chị Đinh Thị Mỷ D khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Tấn C. Anh C có nơi cư trú tại ấp 1, xã P, huyện C, tỉnh L. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh L thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
Bị đơn anh Nguyễn Tấn C đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia vụ án nhưng đều vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh C.
Về nội dung tranh chấp:
Về hôn nhân: Chị Đinh Thị Mỷ D và anh Nguyễn Tấn C chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 2017 là hôn nhân hợp pháp. Theo chị D nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do chị và anh C bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nên thường xuyên cải nhau, do chị mâu thuẫn với gia đình chồng nhưng anh C cũng không giải quyết được nên chị D yêu cầu được ly hôn với anh C.
Đối với anh C, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh C nhưng anh C không đến Tòa án, chứng tỏ anh C không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị D để vợ chồng đoàn tụ, chị D cương quyết ly hôn vì cho rằng vợ chồng đã ly thân và không có khả năng hàn gắn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh C đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị D yêu cầu được ly hôn với anh C là có căn cứ. Do đó, cần áp dụng Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đinh Thị Mỹ D.
Về nuôi con chung: Theo chứng cứ do chị D cung cấp, chị D và anh C có 01 con chung tên Nguyễn Bảo A, sinh ngày 13/10/2017. Hiện chị D đang nuôi cháu Bảo A nên yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy, chị D là người đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bảo A. Do đó, để đảm bảo sự phát triển ổn định, bình thường của con nên Hội đồng xét xử quyết định chị D được tiếp tục nuôi cháu Bảo A.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đinh Thị Mỷ D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về chia tài sản và nợ chung: Do anh C không có văn bản trình bày vấn đề này, chị D xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu các đương sự có tranh chấp, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn yêu cầu.
- 3 -
Về án phí: Chị Đinh Thị Mỷ D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị Mỷ D và anh Nguyễn Tấn C được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Mỷ D về việc “Ly hôn” với anh Nguyễn Tấn C.
1.Về hôn nhân: Chị Đinh Thị Mỷ D được ly hôn với anh Nguyễn Tấn C.
2.Về nuôi con chung: Chị Đinh Thị Mỷ D được tiếp tục nuôi con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 13/10/2017. Anh Nguyễn Tấn C không cấp dưỡng nuôi con.
Bên không nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Toà án có thể thay đổi người nuôi dưỡng cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
3.Về án phí: Chị Đinh Thị Mỷ D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0008341 ngày 06/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước.
4.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Cần Đước; - Chi cục THADS huyện Cần Đước; - UBND nơi ĐKKH; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Nhung |