vanban.org

Bản án 54/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với ông Lương Quốc H1.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm H được ly hôn với ông Lương Quốc H1. Về con chung: Giao con chung tên Lương Nguyễn Thiên H2, sinh ngày 17/6/2015 cho bà Nguyễn Thị Cẩm H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Ông H1 có quyền, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Nguyễn thị Cmả H và Lương Quốc H1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với ông Lương Quốc H1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2020/HNGĐ-ST
Ngày 07/12/2020
“V/v Ly hôn và tranh chấp
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Chu Y.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Phúc;

2. Ông Lê Thanh Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Đình Quế Anh – Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2020/TLHNGĐ-ST ngày 08 tháng 6 năm 2020 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2020/QĐST-HNGĐ ngày 19/11/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm: 1987. Địa chỉ: ấp R, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt

Bị đơn: Ông Lương Quốc H1, sinh năm: 1991. Địa chỉ: ấp R, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Chính sách xã hội.

Địa chỉ trụ sở: Số 169, Phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ồng Dương Quyết Thắng – chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Võ Nhật Duy An. Chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Bến Cầu theo Quyết định ủy quyền số: 4716/QĐ – NHCS của Tổng giám đốc NHCSXH ngày 25/11/2016 về việc ủy quyền tham gia tố tụng và Thi hành án. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 08/6/2020 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Lương Quốc H1 tự tìm hiểu và tổ chức lễ cưới vào năm 2013, ngày 03/10/2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Từ năm 2019 đời sống vợ chồng bất hòa ngày càng nghiêm trọng vì nhiều mâu thuẫn phát sinh. Bà và ông H1 ly thân từ ngày 30/01/2020 cho đến nay. Trong thời gian ly thân bà và ông H1 không hòa giải hàn gắn được do mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết. Xét thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng, tình cảm không còn, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà xin ly hôn với ông Lương Quốc H1.

- Về con chung: Bà và ông H1 có 01 con chung tên Lương Nguyễn Thiên H2, sinh ngày 17/6/2015 từ ngày ly thân sống cùng bà H. Bà yêu cầu giao cháu Hương cho bà nuôi, yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Ngày 03/11/2020 bà có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

* Ông Lương Quốc H1 đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Lương Quốc H1.

* Ngân hàng Chính sách- Xã hội huyện Bến Cầu có đơn khởi kiện ngày 18/8/2020 yêu cầu Tòa án buộc ông H1 và bà H cùng có nghĩa vụ trả số nợ vay tổng cộng 37.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 6600000707522621 ngày 26/6/2016 và hợp đồng tín dụng số 6600000708638137 ngày 07/10/2016. Ngày 22/9/2020, Ngân hàng có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện, lý do là các bên tự thỏa thuận việc trả nợ.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Quá trình thụ lý, giải quyết cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định; bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với ông Lương Quốc H1; Giao con chung cho bà H nuôi, ông H1 không phải cấp dưỡng nuôi con; Không đặt ra xem xét giải quyết về tài sản chung, Đình chỉ giải quyết yêu cầu vay tài sản của Ngân hàng Chính sách xã hội. Về án phí: bà Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu án phí 300.000 đồng, ông Lương Quốc H1 không phải chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông H1, ông H1 cư trú tại ấp R, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh nên TAND huyện Bến Cầu thụ lý giải quyết là đúng quy định về thẩm quyền tại khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết, ông H1 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt, bà H và đại diện hợp pháp của Ngân hàng Chính sách Xã hội có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Bà H và ông H1 kết hôn trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, đã tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đúng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét tình trạng hôn nhân của bà H và ông H1 thì thấy rằng: ông bà kết hôn và chung sống từ năm 2013, quá trình chung sống đã xảy ra mâu thuẫn từ năm 2019, do không thể giải quyết mâu thuẫn nên ông bà ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, ông bà không hàn gắn gia đình. Quá trình giải quyết vụ án, ông H1 đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa cũng không có văn bản trình bày ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của bà H. Xét thấy thấy hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.

Về con chung: Bà H và ông H1 có 01 con chung tên Lương Nguyễn Thiên H2, sinh ngày 17/6/2015 từ ngày ly thân sống cùng bà H. Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo sự ổn định về nhu cầu vật chất, tinh thần và quyền lợi của con chung cần giao cháu Hương cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và Gia đình. Ghi nhận bà H thay đổi yêu cầu về nghĩa vụ cấp dưỡng, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Tòa án đã giải thích về quyền khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho bà H sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung:

Ngày 22/9/2020 ông Nguyễn Võ Nhật Duy An có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng chính sách xã hội-Phòng giao dịch huyện Bến Cầu đối với ông H1 và bà H lý do là các bên tự thỏa thuận việc trả nợ.

Ngân hàng chính sách xã hội được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theo quy định pháp luật.

Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Lương Quốc H1 và Ngân hàng Chính sách xã hội không phải chịu án phí.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Tòa án, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với ông Lương Quốc H1.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm H được ly hôn với ông Lương Quốc H1.

- Về con chung: Giao con chung tên Lương Nguyễn Thiên H2, sinh ngày 17/6/2015 cho bà Nguyễn Thị Cẩm H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Ông H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung:

Đình chỉ việc giải quyết yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của Ngân hàng chính sách xã hội đối với bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với ông Lương Quốc H1.

Ngân hàng chính sách xã hội được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theo quy định pháp luật.

Bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với ông Lương Quốc H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số: 0014292 ngày 08 tháng 6 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Án phí bà H đã thi hành xong.

Ông Lương Quốc H1 và Ngân hàng chính sách xã hội không phải chịu án phí.

3. Bà Nguyễn Thị Cẩm H, ông Lương Quốc H1, Ngân hàng chính sách xã hội có quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ