vanban.org

Bản án 54/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 26/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Phạm Minh Đ 22 (Hai mươi hai) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy“, thời hạn tù được tính từ ngày 20/12/2018. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 0,820 gam Methamphetamine đã qua giám định, có chữ ký của giám định và Phạm Minh Đ theo biên bản giao vật chứng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2019/HSST
Ngày: 26/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Thắng

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Sỹ Long

Ông Đào Văn Nghiệp

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Vũ Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 26/4/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2019/HSST ngày 04/4/2019 đối với bị cáo: Phạm Minh Đ; Sinh năm: 1985; HKTT và nơi ở: A, phường K, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Quốc L (đã chết); Con bà: Ngô Thị O – Sinh năm: 1961; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án: Ngày 19/10/2009 Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử tội Mua bán trái phép chất ma túy, phạt 30 tháng tù, chấp hành xong án phí ngày 27/12/2012, ra trại ngày 26/11/2014; Ngày 27/12/2012 Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, phạt 30 tháng tù, chấp hành xong án phí ngày 27/12/2012, ra trại ngày 26/11/2014. Tiền sự: Năm 2007 đi cai nghiện bắt buộc. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/12/2018, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12h00 ngày 20/12/2018, tại khu vực trước cửa nhà số 46 phố Châu Long, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, tổ công tác Đội CSĐTTP về ma túy – Công an quận Ba Đình yêu cầu dừng chiếc xe máy Honda Wave màu cam BKS: 30K3-0243 do Phạm Minh Đ điều khiển để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện Phạm Minh Đ có hành vi tàng trữ 01 túi nilon bọc ngoài bằng băng dính màu đen, bên trong chứa tinh thể màu trắng, Đ khai nhận là ma túy mua về để sử dụng. Tổ công tác đã đưa Phạm Minh Đ về trụ sở để giải quyết.

Tổ công tác đã thu giữ: 01 gói nilon bọc ngoài bằng băng dính màu đen, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng, số imei: 353264078278129; Tiền Việt Nam trị giá 670.000 đồng; 01 xe máy Honda Wave màu cam BKS; 30K3-0243, số máy: JC43E-008542, số khung: RLHJC43089T006478.

Kết luận giám định số 9639/KLGĐ-PC09 ngày 27/12/2018 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hà Nội xác định: “Tinh thể màu trắng (được bọc ngoài bằng băng dính màu đen) bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,820 gam”.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Phạm Minh Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 11h30 ngày 20/12/2018, bị cáo đi xe máy từ nhà đến khu vực C, phường P, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội để tìm mua má túy đá. Tại đây, bị cáo gặp một người đàn ông không quen biết và đã mua của anh ta 500.000 đồng tiền ma túy đá. Mua xong, bị cáo cầm túi nilon chứa ma túy trong lòng bàn tay trái, đi tìm nơi sử dụng. Khi tới địa chỉ trước cửa nhà số 46 phố Châu Long, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội thì bị công an quận Ba Đình kiểm tra, đưa người cùng tang vật về trụ sở làm việc.

Về nguồn gốc số ma túy, Đ khai mua của một đối tượng không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave BKS: 30K3-0243 thuộc sở hữu hợp pháp của bà Ngô Thị O (sinh năm 1961, Địa chỉ: A, K, Ba Đình, Hà Nội), là mẹ đẻ của Phạm Minh Đ. Xét thấy vật chứng không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Ngô Thị O quản lý, sử dụng.

Tại cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 27 tháng 03 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố bị cáo Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Minh Đ về tội tàng trữ trái phép chất ma túy như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đ mức án từ 20 tháng đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo. Tịch thu, sung công quỹ số tiền 670.000 đồng thu giữ của bị cáo và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng số imei: 353264078278129 thu giữ của bị cáo.

Bị cáo Phạm Minh Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, biên bản niêm phong tang vật, kết luận giám định và phù hợp với các biên bản, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố bị cáo về hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội của Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án.

Những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 12h00 ngày 20/12/2018, tại khu vực trước cửa nhà số 46 phố Châu Long, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Phạm Minh Đ có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Methamphetamine, tổng khối lượng 0,820 gam, mục đích để sử dụng đã bị tổ công tác Đội CSĐTTP về ma túy – Công an quận Ba Đình bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi phạm tội của bị cáo Đ là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là chất gây nguy hại cho con người và cho xã hội, nó làm tha hóa đạo Đ, lối sống, làm mất lý trí con người, làm tan vỡ nhiều hạnh phúc gia đình; đồng thời ma túy còn là mầm mống cho các loại tội phạm khác, như tội trộm cắp, tội cướp, cướp giật... Nhà nước thống nhất quản lý và có chính sách tuyên truyền rộng khắp trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người phòng tránh. Bởi vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Khi lượng hình phạt: Bị cáo đã có 02 tiền án, 01 tiền sự, mặc dù đã được xóa nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, nên để cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo Đ không có nghề nghiệp ổn định nên xét không áp dụng phạt tiền làm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án đã bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình gồm: 01 gói niêm phong trong có ma túy loại Methamphetamine trọng lượng 0,820 gam, đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; Tịch thu sung công quỹ số tiền 670.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng, số imei: 353264078278129 là tài sản cá nhân, đã thu giữ của bị cáo.

Bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015;

Căn cứ khoản 2 điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Xử phạt: Phạm Minh Đ 22 (Hai mươi hai) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy“, thời hạn tù được tính từ ngày 20/12/2018.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 0,820 gam Methamphetamine đã qua giám định, có chữ ký của giám định và Phạm Minh Đ theo biên bản giao vật chứng số: 53/CSĐT (ĐTMT) ngày 25 tháng 3 năm 2019. Tịch thu sung công quỹ số tiền 670.000 đồng thu giữ của bị cáo theo biên lai nộp tiền ngày 25/3/2019 vào tài khoản của Chi cục thi hành án quận Ba Đình. Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng đã qua sử dụng, imei: 353264078278129 đã thu giữ của bị cáo theo Biên bản giao vật chứng số 53 ngày 25/3/2019 của Cơ quan cảnh sát Điều tra - Công an quận Ba Đình.

Bị cáo Phạm Minh Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ