vanban.org

Bản án 54/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La Tuyên án 16/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn D, tên gọi khác không phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy .

Xử phạt bị cáo Lò Văn D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, tính từ ngày 19/6/2019. Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn D, tên gọi khác không phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy .
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SỐP CỘP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 54 /2019/HSST
Ngày 16 /10 /2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP,TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Ngọc Tam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Văn Hùng;

Ông Lò Trung Thành.

Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Kim – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 54/2019/HSST ngày 19 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2019/QĐXXST-HS ngày 03/10/2019 đối với bị cáo:

Lò Văn D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 13 tháng 11 năm 1968, tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

Nơi cư trú: Bản M, xã ML, huyện S, tỉnh SL; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Trồng Trọt; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Lào; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn L và bà: Tòng Thị L1; có vợ (đã chết), có 02 con; tiền án: Có 01 tiền án; năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích, ra tù ngày 02/5/2018; tiền sự: không có; nhân thân: Năm 2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 04 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2019 cho đến nay, có mặt.

NỘI DỤNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19 tháng 6 năm 2019, Lò Văn D một mình đi bộ đến khu vực Huổi Hoi, xã Mường Lạn, huyện Sốp Cộp gặp một người dân tộc Mông không quen biết mua được 06 viên ma túy tổng hợp với số tiền 120.000 đồng, mục đích về sử dụng cho bản thân, sau đó bị Công an huyện Sốp Cộp kiểm tra phát hiện bắt quả tang; Vật chứng được niêm phong theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/6/2019, tại Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Sơn La đã thành lập Hội đồng mở niêm phong, cân tịnh vật chứng thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,59 gam, đã dùng hết để giám định ký hiệu D.

Bản kết luận giám định số 1124 ngày 21/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu D là ma túy, loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,59 gam".Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,59 gam; loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số 54 /CT-VKSSC ngày 19 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Lò Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn D 18 tháng đến 24 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

Về vật chứng: Vật chứng còn lại là 01 phong bì thư của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, bên trong phong bì có 01 phong bì thư niêm phong ban đầu cùng 01 mảnh nilon màu hồng.Các vật chứng đều không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc chất ma túy, bị cáo D khai mua của một người dân tộc Mông không biết tên và địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo không còn căn cứ khác chứng minh, nên cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp không có căn cứ để xử lý trong vụ án.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai nhận của bị cáo, vật chứng của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định tội danh:

Tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn D khai nhận ngày 19 tháng 6 năm 2019 mua được 06 viên Hồng phiến với số tiền là 120.000 đồng của một người không quen biết tại khu vực bản Huổi Hoi, xã Mường lạn, huyện Sốp Cộp, sau đó cất giấu trong túi quần đang mặc trên người thì bị Công an huyện Sốp Cộp bắt quả tang, cân tịnh 06 viên hồng có khối lượng 0,59 gam; Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 19 tháng 6 năm 2019; Biên bản cân tịnh vật chứng, kết luận giám định số 1124, ngày 21/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Sơn La, vật chứng của vụ án là 0,59 gam Methamphetamine.

Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nhằm răn đe giáo dục và để phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có 01 tiền án về tội ma túy chưa được xóa án tích, lại phạm tội mới, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bố của bị cáo là ông Lò Văn Lương được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng ba, nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự

Với các căn cứ nêu trên. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và đưa ra mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội là có căn cứ đúng với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo phải bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo qui định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự; xét thấy bị cáo không có điều kiện thi hành, nên không áp dụng.

Về vật chứng: 01(một) phong bì thư của Công an huyện Sốp Cộp, đã niêm phong dán kín. Mặt trước phong bì ghi: Vật chứng lưu kho vụ: Lò Văn D; hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bên trong phong bì có: 01 phong bì thư niêm phong ban đầu cùng 01 mảnh nilon màu hồng, là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự:

1.Tuyên bố bị cáo Lò Văn D, tên gọi khác không phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy .

Xử phạt bị cáo Lò Văn D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, tính từ ngày 19/6/2019.

Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.

2. Vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy 01(một) phong bì thư của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã niêm phong dán kín. Mặt trước phong bì ghi: Vật chứng lưu kho vụ: Lò Văn D về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 19/6/2019, bên trong phong bì có: 01 phong bì thư niêm phong ban đầu cùng 01 mảnh nilon màu hồng. Toàn bộ vật chứng của vụ án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19 tháng 9 năm 2019, giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí ; buộc bị cáo Lò Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 16/10/2019, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ