vanban.org

Bản án 54/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên Tuyên án 29/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn D phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lò Văn D 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2019. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,08 gam H… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn D phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG ẢNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 54/2019/HSST
Ngày: 29/10/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Lò Văn Đoàn.

2. Bà: Mùa Thị Ly

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Minh Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã X, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2019/HSST, ngày 18 tháng 9 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2019/QĐXXST – HS ngày 17 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn D; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1967 tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản K, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Không; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; con ông: Lò Văn H (đã chết) và bà Lò Thị P (đã chết); Bị cáo có vợ: Lò Thị A, sinh năm 1967 và 06 người con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giam, giữ từ ngày 15/6/2019 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Tòng Văn C, sinh năm 1997.

Cư trú tại: Bản K, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Lò Văn D được tóm tắt như sau:

Ngày 15/6/2019 tại nhà ở của mình thuộc Bản K, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên, Lò Văn D đã có hành vi tàng trữ 0,15 gam Heroine mục đích sử dụng.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Vào ngày 14/6/2019 Lò Văn D đã mua 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ ở đâu mang về nhà cất dấu. Đến khoảng 07 giờ sáng ngày 15/6/2019 D lấy gói Heroine ra, lấy một ít sử dụng bằng hình thức đốt hít tại bàn uống nước của gia đình, khi D đang sử dụng thì có Tòng Văn C, sinh năm 1997 (là cháu ruột của D gọi D bằng Cậu) lên nhà để rủ con trai D tên là Lò Văn B đi cày ruộng, lúc đó D để gói Heroine lên mặt bàn uống nước, C ngồi tại bàn đối diện D hút thuốc lào, khi thấy tổ công tác Công an Đồn Búng Lao lên nhà, C đã cầm gói Heroine của D chạy ra ngoài ném xuống gầm sàn nhà D nhằm phi tang vật chứng, giúp D chối tội nhưng bị tổ công tác phát hiện thu giữ gói Heroine.

Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 8 giờ 25 phút ngày 15/6/2019 thì vật chứng thu giữ của Lò Văn D là 01 gói nhỏ chất bột màu trắng được gói trong mảnh nilon màu trắng nghi là Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng hồi 14 giờ 10 ngày 15/6/2019 thì 01 gói nhỏ chất bột màu trắng được gói trong mảnh nilon màu trắng nghi là Heroine có khối lượng là: 0,15gam.

Tại bản kết luận giám định số: 646/GĐ – PC 09, ngày 23/6/2019 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn D gồm: 0,15 gam chất bột màu trắng là ma túy: Loại Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, mục IA, danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, không hoàn lại mẫu sau khi giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 48/CT - VKSMA, ngày 17/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Lò Văn D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 16 tháng đến 22 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,08 gam Heroine còn lại sau khi giám định.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo Lò Văn D.

Lời nói sau cùng, Lò Văn D nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Tòng Văn C trong vụ án. Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình điều tra anh C đã có đầy đủ lời khai thể hiện rõ quan điểm của mình nên việc vắng mặt của anh tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo cũng như quyền lợi của anh. Vì vậy HĐXX quyết định xét xử vụ án là hoàn phù hợp với quy định của pháp luật.

. Nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn D công nhận: Hồi 07 giờ ngày 15/6/2019, tại nhà ở của mình thuộc Bản K, xã X, huyện M, Lò Văn D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,15 gam Heroine mục đích sử dụng. Trong quá trình điều tra bị cáo khai mua 01 gói nhỏ Heroine với giá 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng).

Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản niêm phong tài liệu đồ vật và biên bản xác định khối lượng ngày 15/6/2019 và kết luận giám định số 646/GĐ – PC 09, ngày 23/6/2019 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, cũng như biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 7 giờ 40 phút ngày 15/6/2019 đối với Lò Văn D.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lò Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện M, tỉnh Điện Biên bị cáo không được đi học. Năm 1987 kết hôn với chị Lò Thị A, sinh năm 1967 và có với nhau 06 người con. Ngày 26/01/1994 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 24/10/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đến nay đã được xóa án tích. Bị cáo là một người chồng, người cha trụ cột trong gia đình nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy, đã đi chấp hành án về không coi đó là bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà còn lao vào con đường phạm tội nên có nhân thân không tốt. Bởi vậy Hội đồng xét xử cần đưa ra mức án thật nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và cũng là cơ hội để bị cáo cai nghiện ma túy. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Theo khoản 5 Điều 249 của BLHS quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với Tòng Văn C đã có hành vi ném số Heroine của bị cáo xuống sàn nhà nhằm che giấu tội phạm, tuy nhiên C là cháu ruột gọi bằng cậu của bị cáo nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

. Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ ở đâu vào ngày 14/6/2019. Quá trình điều tra không có cơ sở để làm rõ đối tượng nên HĐXX không xem xét.

. Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng: 0,08 gam Heroine là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định, cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo Lò Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nhưng bị cáo sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Về đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát xét thấy phù hợp nên hội đồng xét xử xem xét.

. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn D phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lò Văn D 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2019.

2. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,08 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án.

(Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/9/2019).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn D.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết tại Uỷ ban nhân dân nơi cư trú của người vắng mặt về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Cỡ chữ